Phong thủy online:

Phong thủy - Bát tự - Chọn ngày | 0909 717 141

Bài mới nhất

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà Nguyễn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà Nguyễn. Hiển thị tất cả bài đăng

Xem phong thủy đất Kim Long cát tường của chúa Nguyễn

Ảnh Gia Tiên - Một Thế Giới
[Xem phong thủy] Là một cuộc đất cát tường về mặt phong thủy, Kim Long được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của Đàng Trong suốt nửa thế kỷ. Là một cuộc đất “sơn thủy hữu tình”, Kim Long còn nổi tiếng có nhiều mỹ nhân, mà đến nay hãy còn để lại câu ca: “Kim Long có gái mỹ miều – Trẫm thương trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi”…50.


Quốc sử quán triều Nguyễn chép: vào năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan (tức chúa Thượng) thấy đất Kim Long là nơi “có địa hình tốt đẹp” nên đã dời dinh đến đó và Kim Long trở thành thủ phủ đầu tiên đóng bên bờ tả ngạn sông Hương. Nhìn qua bên kia hữu ngạn thấy đồi Long Thọ hiện lên với thế núi đặc thù “khóa giữ thượng lưu sông Hương và được các nhà địa lý gọi là kiểu đồi “thiên quan địa trục” – nghĩa là trổ cửa lên trời và là trục xoay của các vùng đất (Đại Nam nhất thống chí).

Địa thế phong thủy ấy cũng được học giả Cadière ghi nhận khi ông đứng từ kinh thành Huế nhìn xa xa tới đường chân trời phía nguồn sông Hương thấy những ngọn đồi và đỉnh núi dãy này nối tiếp dãy kia trùng điệp vắt ngang tầm mắt, màu sắc thay đổi theo từng ngày nắng, ngày mưa, khi thì nâu nhạt, lúc xanh thẫm, tựa hồ bức tranh bốn mùa sinh động.

Giữa bức tranh cẩm tú mênh mang ấy là một con sông chạy đến gần đất Huế, trải mình ra giữa hai ngọn đồi: “một bên là ngọn đồi Thiên Mụ (Hà Khê) với tháp Phước Duyên, bảy tầng ngất ngưỡng như chọc thủng trời xanh để đưa xuống những nguồn phúc lộc, và bên kia hữu ngạn là mô đất Long Thọ – trường sinh bất tử. Mô đất này cũng có những đặc tính nhiệm màu kỳ lạ mà sau này các thầy địa lý của triều đình Việt Nam cũng công nhận. Vì nó án ngữ nguồn chảy của sông Hương, tưởng như nó đang gối đầu lên dòng nước và nghiêng nghiêng đối diện với đồi Thiên Mụ tạo thành một thế phong thủy gọi là cánh cửa thông thiên và trục xe địa phủ” (Đỗ Trinh Huệ dịch).

Ảnh tư liệu sơ đồ phủ Kim Long - Một thế giới
Sơ đồ thủ phủ Kim Long, Huế

Như vậy, đồi Long Thọ (hữu ngạn) cùng đồi Hà Khê (tả ngạn) nhô lên khỏi đất bằng để ôm lấy dòng nước sông Hương đang êm đềm đổ xuống, tạo nên cảnh trí thơ mộng cho các vùng đất hai bờ, trong đó có Kim Long. Xét sách địa lý gia truyền của cụ Tả Ao, thì: có núi mà không có nước sẽ thành cảnh “cô sơn” – ngược lại có nước mà không có núi sẽ thành “cô thủy” (Hữu sơn vô thủy, vị chi cô sơn – Hữu thủy vô sơn, vị chi cô thủy).

Tốt nhất vừa có núi vừa có sông nước liền nhau để núi nghênh thủy (sơn cố thủy) và thủy in bóng núi (thủy cố sơn) mới thật là đất tốt (dung kết chi địa dã). Vậy Kim Long có đủ yếu tố “sơn thủy” như cụ Tả Ao nêu. Mà thủy ở đây với thế “tĩnh” và “tụ” nên sinh ra người trong vùng thanh lịch, giàu có (thủy tĩnh nhân tú - thủy tụ nhân phú) khác với chỗ nước xoáy xô bồ ào ạt, hoặc nước chảy rì rào như tiếng khóc tỉ tê suốt ngày sẽ sinh ra kẻ bần tiện, đói nghèo (thủy trọc nhân mê – thủy khứ nhân bần).

Thật vậy, cuộc đất Kim Long từ khi trở thành thủ phủ. Sau này, khi thủ phủ dời về Phú Xuân (cũng nằm bên tả ngạn sông Hương), Kim Long vẫn để lại các tên đất gợi nhớ thời lập phủ như: Thượng Dinh, Trung Dinh, Hạ Dinh, Cồn Kho, Mô Súng, vườn Nghênh Hôn … Và vua Thành Thái đã đến đó góp một trang “tình sử”.

Mối tình của vua Thành Thái.

Vua Thành Thái là một ông vua yêu nước bị thực dân Pháp quản thúc ở Vũng Tàu (từ 1907), đày sang đảo Réunion 31 năm (từ 1916 – 1947). Ngày còn tại vị, vào những năm 1889-1907, nhà vua rất gần gũi dân chúng, hay cải dạng thành thường dân để rời hoàng cung ra ngoài thành.

Có lần dạo qua vùng Kim Long, vua bước xuống bến sông gọi đò về, chợt thấy cô lái đò là một cô gái má hồng như màu cánh sen, dáng bộ tha thướt dẫu ở chốn bình dân mà xem có bề quý phái, ngay lập tức “tiếng sét” vô thanh đã đánh trúng trái tim của hoàng đế. Rồi trong bộ dạng của một “thanh niên bình thường”, vua Thành Thái đến bên thiếu nữ hỏi: “O kia, có ưng làm quý phi không?”.

Sau giây phút thẹn thùng và ngỡ ngàng trước câu hỏi lạ, cô bỗng mạnh dạn trả lời : “Ưng !” (đồng ý). Cô ngỡ trả lời bâng quơ như thế cho có, cho xong, ai ngờ chàng “thanh niên” liền đến đầu mũi thuyền giành lấy mái chèo nói: “Hãy để trẫm chèo đưa quý phi đi”. Rồi vua chèo đò xuôi dòng nước đến đậu trước Phu Văn Lâu, lên bến Nghinh Lương, đưa cô vào hoàng cung, đến vườn thượng uyển, khiến cô bàng hoàng như đang “mộng dưới hoa”…

Vua Thanh Thai - Ảnh tư liệu_Một Thế Giới
Chân dung vua Thành Thái

Cạnh đó những cuộc tình dân gian ở Kim Long cũng đã đi vào ca dao với bao lời da diết:“Nước đầu cầu khúc sâu khúc cạn. Chèo qua Ngọc Trản đến vạn Kim Long. Sương sa gió thổi lạnh lùng. Sóng xao trăng lặn, chạnh lòng nhớ thương”. Hoặc: “Kim Luông dãy dọc tòa ngang. Em chèo một chiếc thuyền nan về Sình. Đôi lứa mình lỡ hẹn ba sinh. Có mần răng đi nữa cũng hãy trọn tình với nhau”. Mấy tiếng “dãy dọc tòa ngang” nhắc nhớ đến vùng đất xưa lúc Kim Long là thủ phủ của chúa Nguyễn.

Alexandre De Rhodes với thủ phủ Kim Long.

Địa thế phong thủy cùng tài năng chúa Nguyễn đã đưa Kim Long thành trung tâm hành chính, quân sự của đất Nam Hà một thời. Để tìm hiểu điều ấy, thiết tưởng chúng ta hãy xem qua những ghi chép khách quan của người châu Âu đương thời từng đến đó. Chúng tôi muốn nhắc đến học giả, nhà truyền giáo dòng tên (Jésuite): Alexandre de Rhodes – đã có mặt tại Kim Long khoảng những năm 1640 – 1645 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Lan.

Ông là tác giả cuốn Từ điển Việt – Bồ – La, biên soạn sau ngày đến Kim Long, chứa đựng nhiều sắc thái văn hóa của người Việt thế kỷ 17. Chính ở Kim Long, Alexandre de Rhodes yết kiến chúa Nguyễn Phúc Lan và tận mắt nhìn thấy sinh hoạt trong phủ chúa cũng như ngoài dân chúng và kể lại trong một cuốn sách xuất bản tại châu Âu.

Trong tác phẩm đó, ông mô tả quang cảnh Kim Long như một “thành phố lớn” (cette grande ville) với đông đúc dân cư, nhà cửa, phố xá, chợ búa, bến nước và buổi lễ đón tiếp những người Tây Ban Nha, những nữ tu và ông vào buổi chiều tháng 2.1645 bên bờ sông Hương: “Chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan) và phu nhân trong trang phục quý phái, lộng lẫy cùng đông đảo các vị quan lớn trong phủ Kim Long có mặt tại buổi đón tiếp.

Có ngót 4000 lính chia làm 4 đội sắp hàng chỉnh tề, khéo léo, không che khuất chỗ chúa Thượng và phu nhân đang đứng. Những đội cận vệ đứng sát để bảo vệ chúa, ai nấy đều cầm trong tay một thanh đao có gắn chuôi bằng bạc và mặc áo bằng nhung màu tím có thắt đai vàng ngang bụng, đứng nghiêm chỉnh và im phăng phắc. Khi đoàn Tây Ban Nha đến, chúa cho phép hết thảy binh lính của mình ngồi xuống đất, xếp bằng lại để buổi lễ bắt đầu. Chúa sai mang đến cho mỗi người một phần trà đựng trên các khay sơn son thếp vàng bóng loáng”.

Chúa Thượng cũng mời Alexandre de Rhodes và những người trong đoàn bữa tiệc theo cung cách cung đình với rất nhiều món ăn sang trọng. Yến tiệc được bày ra với các vũ nữ Kim Long vây quanh biểu diễn các điệu múa điêu luyện khiến những người Tây Ban Nha có mặt phải trầm trồ khen ngợi. Mãi đến khi trời sập tối, chúa ra lệnh thắp đuốc sáng rực khắp dinh. Các dịp tiếp theo, chúa Thượng đã cho diễu binh trên bộ với khoảng 6000 binh lính và dân chúng tham gia đi rợp cả “thành phố lớn” Kim Long. Cùng lúc dưới nước chúa cho tập trận với 20 chiến thuyền lướt như bay trên mặt sông Hương.



Một ngôi nhà cổ ở Kim Long, Huế

Sau này vị trí của thủ phủ Kim Long mà Alexandre de Rhodes ghi lại được nhiều nhà nghiên cứu định vị, chẳng hạn: “có lẽ thủ phủ của chúa Nguyễn lúc ấy tọa lạc tại vùng đất từ chợ Kim Long lên đến gần làng Xuân Hòa (…) đã được sông ngòi bao bọc cả 4 bề: trước mặt là sông Hương, bên trái là sông Kim Long, bên phải và phía sau là sông Bạch Yến” (Phan Thuận An).
Một tác giả khác, nhà nghiên cứu Phan Thanh Hải, trong tài liệu về “Thủ phủ Kim Long và diện mạo của Huế trước 1687” in trong tuyển tập Cố đô Huế xưa và nay (NXB Thuận Hóa 2005) nhắc đến 4 lần chúa Nguyễn dời dựng, thay đổi vị trí thủ phủ trước khi chuyển đến Kim Long,đó là Ái Tử (1558 – 1570), Trà Bát (1570 – 1600), Dinh Cát (1600 – 1626), Phước Yên (1626 – 1636) và nhận định:

“Địa danh Kim Long mà chúng tôi nói ở đây là làng Kim Long (chứ không phải phường Kim Long) có diện tích tổng cộng chừng 130ha, nằm ở tả ngạn sông Hương, một vùng đất trù phú màu mỡ, vị trí thuận lợi, cảnh sắc trữ tình. Căn cứ vào các nguồn tư liệu, nhất là gia phả của các dòng họ lâu đời ở Kim Long, thì làng đã được thành lập cách đây trên dưới 400 năm và là kết quả của việc mở rộng và tách ra từ làng Hà Khê (nơi có chùa Thiên Mụ và long mạch nhà Nguyễn) (…) Trong địa phận của làng Kim Long, ngoài sông Hương ở phía Nam còn có sông Kim Long (tức sông lấp) ngăn cách làng Phú Xuân và Vạn Xuân, và sông Bạch Yến chảy ngang qua giữa làng. Cả hai con sông này đều là các chi lưu của sông Hương, chúng vừa tạo nên vẻ đẹp trữ tình của vùng đất này, vừa tạo nên địa thế rất “đắc lợi” của Kim Long là “tứ thủy triều quy”…

Nghĩa là bốn dòng nước tụ về dưới chân những trái núi quanh cuộc đất Kim Long phù hợp với điều cụ Tả Ao giảng giải về thế sơn thủy: sơn là chồng, thủy là vợ, khi chồng xướng xuất việc gì thì vợ sẽ phụ theo (sơn vi phu, thủy vi phụ, phu xướng phụ tùy), cùng nghĩa ấy: núi là “trống”,nước là “mái” – núi chạy đến đâu thì nước theo đến đó (sơn vi hùng, thủy vi thư – hệ sơn tắc thủy tòng). Mà sơn mạch chạy từ dãy Trường Sơn hùng vĩ tách nhánh ra đến đất Kim Long được dòng sông Hương, sông Bạch Yến theo về “hợp hôn” – sinh ra một vùng nước xanh thơ mộng – thủ phủ của Nam Hà, cũng là thủ phủ của tình yêu một thuở.

Nguồn: Motthegioi - Bài: Giao Hưởng – Ảnh: Gia Tiến, Tư liệu

Học phong thủy với lăng tẩm Huế

Xem phong thủy - Hệ thống lăng tẩm ở Huế gắn liền với sự thăng trầm của chiếc ngai vàng triều Nguyễn (1802 - 1945). Trải qua 13 đời vua, nhưng vì những lý do lịch sử phức tạp mà hiện còn 7 khu lăng tẩm theo thứ tự: Lăng Gia Long (Thiên Thụ Lăng), Minh Mạng (Hiếu Lăng), Thiệu Trị (Xương Lăng), Tự Đức (Khiêm Lăng), Dục Đức (An Lăng), Đồng Khánh (Tư Lăng) và Khải Định (Ứng Lăng).

"Gió về mang cả mùi lăng tẩm"

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng gọi Huế là xứ sở của "Lăng miếu trùng vây". Có thể nói, ngoài bề dày lịch sử của đất thần kinh, "Văn hóa lăng tẩm" là một bộ phận quan trọng và độc đáo cấu thành di sản văn hóa Huế.

Nếu đứng từ vị trí trung tâm của Cố đô, 7 khu lăng này đều nằm về hướng tây của kinh thành Huế, đó là biểu tượng "Thái dương tây hạ" (Mặt Trời lặn phía Tây) - chỉ việc băng hà của đấng Chí tôn.

Theo quan niệm xưa "Thứ nhất dương cơ, thứ hai âm phần", việc xây cất quan trọng sau cung điện là lăng mộ. Từ thời Lý về trước, lăng mộ các vua rất đơn giản, nay chỉ còn dấu vết ít ỏi. Từ đời Trần, Lê về sau, mỗi vua có một lăng riêng, nhưng tẩm thờ thì chung. Đến thời Nguyễn, các vua mới có lăng tẩm mộ to thờ riêng từng người.

Thủy tạ trong Khiêm lăng

Thuật phong thủy là yếu tố phải tuân thủ triệt để trong kiến trúc lăng tẩm Huế. Với quan niệm "Tức vị trị lăng", ngay khi tại vị, vua đã cho tiến hành khảo sát địa thế, lập đồ án xây dựng lăng tẩm cho mình. Các quan ở Khâm Thiên Giám, bộ Lễ, bộ Công đi tìm cuộc đất, ngày khởi công, trình đồ án kiến trúc cho vua ngự duyệt.

Các thầy địa lý nổi tiếng nhất phải mất hàng tháng hoặc hàng năm trời dò tìm long mạch để có địa cuộc đại cát hội đủ các yếu tố minh đường huyền thủy, tiền án hậu chẩm, sơn triều thuỷ tụ, tả thanh long hữu bạch hổ... Huyền cung (nơi đặt quan tài) phải đúng long mạch. Ngoài sông, núi, khe, hồ của tự nhiên là lầu, đài, đình, tạ hoặc đắp thêm núi đất làm án, chẩm; hoặc đào thêm hào, khe làm huyền thủy... hình thành nên những tòa lăng tẩm với kiến trúc độc đáo, cảnh quan hài hoà, hùng vĩ mà thơ mộng. Hầu hết các lăng đều nằm trên những đồi cỏ mượt với ngút thông xanh, cổ thụ sum xuê toả bóng xuống mặt hồ lặng biếc.

Mộ vua Tự Đức trong Khiêm lăng

Nhìn bao quát không gian lớn mới thấy hết vẻ hoành tráng của lăng và mối liên hệ với những thực thể địa lý xa đến hàng chục cây số. Lăng Gia Long có diện tích hơn 20ha, nằm trên núi Thiên Thụ, có núi án là Đại Thiên Thụ, xung quanh có 36 ngọn núi chầu vào. Lăng này do thầy phong thủy Lê Duy Thanh, là con của nhà bác học Lê Quý Đôn, tìm ra địa cuộc. Vua Gia Long đích thân cưỡi voi đi khảo sát trước khi chuẩn y.

Lăng Minh Mạng rộng 15ha, nằm trên núi Cẩm Kê (Hiếu Sơn), có núi Kim Phụng chầu, toàn lăng như một người nằm gối lên đồi cao, chân tay duỗi ra phía ngã ba sông. Quan Lê Văn Đức tìm ra đất này được vua thăng hai cấp.

Lăng Thiệu Trị nằm trên núi Thuận Đạo, rộng 6ha, theo phong thủy là thế "sơn chỉ thủy giao"(núi dừng, nước giao). Phía trước có đồi Vọng Cảnh chầu bên phải, núi Ngọc Trản chầu bên trái thành thế "tả thanh long, hữu bạch hổ". Trước lăng khoảng 9km có núi Chằm làm tiền án, phía sau có núi Kim Ngọc làm hậu chẩm.

Sống gửi thác về

Khu lăng tẩm nào cũng chia làm hai phần chính là lăng và tẩm. Lăng là nơi an táng thi hài vua, tẩm là hành cung nơi vua làm việc, sinh hoạt, giải trí kiến trúc mô phỏng như hoàng cung. Vua thỉnh thoảng ngự giá đến đây để tiêu khiển, ngắm cảnh, làm thơ, nhìn ngắm sinh phần của mình mà ý thức rằng cõi trần tạm bợ, đời người chóng qua như giấc mộng: "Sự đời ngẫm nghĩ nghĩ mà ghê/Sống gửi rồi ra lại thác về/Khôn dại cùng chung ba tấc đất/Giàu sang chưa chín một nồi kê..."(Ngẫm sự đời - Vua Tự Đức).

Với quan niệm "Sống gửi thác về", lăng tẩm là hoàng cung vĩnh hằng của các vị vua. Vì thế, trong hầu hết các lăng tẩm đều trang trí vô số hoa văn các chữ "thọ", "hỷ", hình ảnh sông núi thân quen, những bức họa sinh động để không có cảm giác chết chóc, nặng nề.

Lăng được kiến trúc từ thấp lên cao. Ngoài cùng là thành bao bọc, có hồ thả sen, bờ hồ trồng sứ, cây cảnh. Cổng chính là đến một sân gạch rộng, hai bên sân có đúc tượng người, voi, ngựa bằng đá. Trên cuối sân là Bái đình để các quan làm lễ khi tế tự. Tiếp đó là Bi đình (nhà bia) là toà nhà nhỏ có một tấm bia lớn trên bệ đá cao gọi là bia Thánh đức thần công. Trong bia khắc bài ký ghi nhớ công đức của vua.

Tòa Bi Đình

Sau lưng Bi đình là hai trụ hoa biểu (trụ dẫn linh hồn) cao vút. Qua Bi đình là tẩm điện, thờ thần vị của hoàng đế và hoàng hậu, bên ngoài bày những đồ ngự dụng lúc sinh thời. Phía trong Tẩm điện và hai bên có hai dãy nhà lớn gọi là Tả hữu tùng viện để các bà phi và kẻ hầu ở. Theo nhà nghiên cứu Phan Văn Dật thì đến năm 1901, tức 14 năm sau khi vua Dực Tông băng hà, còn có 47 bà phi sống trong Khiêm Lăng.

Lăng tẩm ngày nay vắng bóng cung nga, khói hương tàn lạnh, tường xanh rêu phủ, nhưng dường như trong không gian se sắt ấy phảng phất bóng u linh rì rào trên ngọn thông, khối đá khiến lòng người chùng xuống. Cảnh sắc ấy thật u uẩn mà cũng thật thi vị, như thi sĩ Bích Lan từng viết: Kìa núi Ngự sông Hương cùng lăng tẩm/Vẫn âm thầm chờ đón các thi nhân...

------------

Nhà nghiên cứu Huế Phan Thuận An đã đúc kết phong cách nghệ thuật của bảy khu lăng tẩm như sau: Lăng Gia Long hoành tráng; Lăng Minh Mạng thâm nghiêm; Lăng Thiệu Trị thanh thoát; Lăng Tự Đức thơ mộng; Lăng Dục Đức đơn giản; Lăng Đồng Khánh xinh xắn; Lăng Khải Định tinh xảo.

Theo Hàn Phong - Kienthucnet

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đề nghị xem lại công lao của Nhà Nguyễn

[Nhà Nguyễn] Ông đề nghị các nhà viết sử phải chỉnh sửa lại câu “vua quan nhà Nguyễn đầu hàng bán nước” ở rất nhiều ấn phẩm.

Nhân ngày kinh đô Huế thất thủ - ngày 23-5 âm lịch, ngày thương binh liệt sĩ 27-7, kỷ niệm 100 năm ngày mất của Tôn Thất Thuyết, Hội Nhà báo và Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên - Huế tổ chức ra mắt tác phẩm và tọa đàm về Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết (NXB Lao động, ấn hành quý 3-2012).

Từ sau sự kiện quân Pháp tấn công vào Đà Năng (1858) và đánh chiếm ba tỉnh miền đông Nam Bộ, nội các triều đình nhà Nguyễn hình thành hai phái chủ chiến và chủ hoà.

Phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết đứng đầu. Họ chủ động xây dựng kinh thành kháng chiến ở Tân Sở - Quảng Trị, dùng nhiều cách để loại bỏ những đại thần, hoàng thân, nhà vua chủ hoà, thân Pháp, dựng lên ngôi những ông vua có tư tưởng yêu nước - như vua Hàm Nghi (lên ngôi 2-8-1884) để sau đó ít lâu trở thành ngọn cờ kháng chiến chống Pháp.

Ngày 2-7-1885, tướng Pháp De Courcy yêu cầu triều đình Huế tổ chức nghi lễ chuyển giao theo hiệp ước Pa - tơ - nôt, nhân cơ hội này sẽ bắt Tôn Thất Thuyết. Biết trước âm mưu của De Courcy, Tôn Thất Thuyết tìm mọi lý do để cự tuyệt.

De Courcy yêu cầu triều đình Huế trong vòng ba ngày phải nộp đủ tiền bồi thường chiến phí; phải cho sĩ quan tuỳ tùng và lính Pháp được mang vũ khí vào cửa Ngọ Môn.

Thái độ hách dịch và những yêu sách vô lý của De Courcy đã đẩy mâu thuẩn lên đến tột đỉnh. Nhằm lật lại thế cờ, đêm 22, rạng sáng ngày 23-5 Ất Dậu (5-7-1885) Tôn Thất Thuyết tổ chức tập kích các đồn binh của Pháp ở cả bờ bắc và bờ nam sông Hương.

Cuộc tập kích bất thành, kinh đô thất thủ, phe chủ chiến phò vua Hàm Nghi ra Tân Sở. Ngày 13-7-1885, Tôn Thất Thuyết thay mặt vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương, dấy lên phong trào kháng chiến chống Pháp rộng khắp trên toàn quốc.

Biến cố này và phong trào Cần Vương, vai trò cá nhân của Tôn Thất Thuyết rất lớn. Để kinh đô thất thủ và sau này phong trào Cần Vương bị dập tắt, lịch sử đã và đang tiếp tục phán xét Tôn Thất Thuyết. Nhưng từ các sự kiện này lịch sử cũng đã vinh danh Tôn Thất Thuyết, một người tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước và anh hùng thời bấy giờ.

Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết do GS Đinh Xuân Lâm và TS Nguyễn Văn Khoan tổ chức bản thảo, tập hợp 25 bài viết đã công bố của nhiều tác giả. Riêng tại Huế có 12 bài của 8 tác giả. Do tập hợp bài viết của nhiều tác giả và tổ chức bản thảo tại Hà Nội nên trong tác phẩm còn có khá nhiều hạt sạn.

Cùng một tác phẩm nhưng về nội dung có những điểm khác biệt, mâu thuẫn ở một số bài viết. Lỗi biên tập và mo rát khá nhiều như: Sai sót, lẫn lộn về chức và tước của các nhân vật lịch sử; sai chức danh, địa chỉ của một số tác giả. Làng Vân Thê, quê hương của Tôn Thất Thuyết, được các nhà biên soạn viết thành làng Văn Thê.v.v…

Buổi ra mắt tác phẩm mang không khí của một hội thảo nhân vật lịch sử. TS Nguyễn Văn Đăng cho rằng vai trò của Tôn Thất Thuyết rất lớn, là nhân vật số một của phái chủ chiến nhưng các công trình nghiên cứu về ông còn rất khiêm tốn.

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cho đây là một vấn đề lớn của sử học, đồng thời đang là một vấn đề thời sự. Ông đề nghị các nhà viết sử phải chỉnh sửa lại câu “vua quan nhà Nguyễn đầu hàng bán nước” ở rất nhiều ấn phẩm. Viết như thế không ổn khi có những ông vua như Hàm Nghi, có những quan đại thần như Tôn Thất Thuyết dựng cờ kháng chiến chống Pháp .

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đề nghị Hội KHLS Việt Nam cần tổ chức hội thảo về phong trào Cần Vương với sự tham gia của bốn địa phương từ Huế ra tới Hà Tĩnh - những nơi có kinh thành, bản doanh của vua Hàm Nghi và nghĩa quân Cần Vương.

Tương tự, nhà nghiên cứu Lê Quang Thái đề nghị công trình nghiên cứu về Tôn Thất Thuyết cần có những bài viết đánh giá đầy đủ, sâu sắc về phong trào Cần Vương và Văn thân cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị ngôi nhà của Tôn Thất Thuyết ở phường Kim Long cũng được đặt ra, dù nó đã thay đổi chủ sở hữu…

Một số tác giả từng lên án Nguyễn Văn Tường thỏa hiệp với người Pháp, bây giờ, ngay trong tác phẩm này, cũng đã khẳng định: Gần đây, dưới ánh sáng của tư liệu mới, kết hợp với cách nhìn đổi mới của tư duy sử học, Nguyễn Văn Tường được xác nhận là danh nhân yêu nước…”.
Theo Tienphongonline (Thanh Tùng)

Vinh danh Chúa Nguyễn Hoàng

[Nhà Nguyễn] Lâu nay, mối lần đi qua miền Ái Tử gió Lào cát trắng Quảng Trị, tôi lại nhớ đến thời Dinh Cát chúa Nguyễn. Từ sau chuyến lần đầu đi Miền Tây Nam Bộ vào tận rừng đước, mắm Mũi Cà Mau, Hà Tiên, qua sông Tiền, Sông Hậu vào dịp cuối thu 2008, không hiểu sao tôi lại luôn nghĩ về Chúa Tiên Nguyễn Hoàng và bao thế hệ những người mở cõi hơn 450 năm trước để tạo lập nên hình thù của Tổ Quốc hôm nay. Nhiều đêm tôi mơ thấy mơ thấy mình theo cuộc chinh chiến phương Nam của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh; mơ mình thành dân thương hồ trôi nổi trên Kênh Vĩnh Tế từ Châu Đốc-Hà Tiên.

Mới đây thôi, tháng 9-2008, UBND tỉnh Thanh Hóa đã chủ động đề nghị Hội Sử học đồng tổ chức cuộc hội thảo "Đánh giá Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX" càng làm tôi xúc động nghĩ về công lao các Chúa Nguyễn . Lịch sử luôn là sự thật công bằng, không dễ gì đảo ngược được. Đất Hà Trung, Thanh Hoá là Quý Hương, nơi hiện có Gia Miêu ngoại trang là quê hương của các Chúa Nguyễn, nơi xuất phát công cuộc Nam tiến vĩ đại của dân tộc. Đặc biệt là Khu lăng miếu Triệu Tường với nhiều kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, mang ý nghĩa linh thiêng của đất phát tích một vương triều. Thời đó, những họ hàng ở Tống Sơn cùng những quân lính ở Thanh, Nghệ nhiều người đưa cả vợ con đi theo Nguyễn Hoàng...Phải tìm về cội nguồn mới hiểu được bản chất lịch sử. Tìm về cội nguồn là sự ứng xử của người thức giả bao đời...

NGUYỄN HOÀNG LINH VỌNG
Đọc lịch sử ai cũng biết Nguyễn Hoàng là một tướng tài lập nhiều công lớn, được vua Lê phong tước Thái úy Đoan Quốc Công. Năm 1558 sau khi người anh cả là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm , người kiểm soát binh quyền của nhà Hậu Lê (anh rể , lấy chị ruột Nguyễn Hoàng là Ngọc Bảo ) giết, do lo sợ bị anh rể sát hại và nghe lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm "Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân." ( Một dãy Hoành Sơn dung thân muôn đời), Nguyễn Hoàng mới nhờ chị xin Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hoá . Vào Nam, Nguyễn Hoàng lên ngôi Chúa và đóng thủ phủ ở Ái Tử, huyện Đăng Xương (nay là Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) 55 năm ròng từ năm 1558 đến khi mất 1613. Trạnh Trình khuyên Nguyễn Hoàng qua Hoành Sơn để vạn đại dung thân, nhưng Chúa Tiên đã không dung thân tí nào. Chỉ 55 năm ở ngôi Chúa, Nguyễn Hoàng đã làm nên bao kỳ tích lịch sử : Ở Dinh Cát Ái Tử, Quảng Trị "tỉnh lẻ", với phương tiện kỹ thuật thông tin liện lạc, quan sát, giao thông thô sơ lúc ấy, nhưng tầm nhìn của Nguyễn Hoàng là tầm nhìn của một nhà chiến lược xuyên hai thế kỷ : Ông hướng ra Bắc mong khôi phục nhà Lê, hướng vào vào Nam mở cõi; hướng ra các đảo trên biển đông xác lập chủ quyền quốc gia; muốn Đàng Trong giàu có phải mở mang giao thương quốc tế, lập nên các "khu thương mại tự do" mà bây nước ta vẫn chưa dám lập; Muốn thực hiện được chiến lược đó phải biết dạy con cháu nối ngôi biết dùng người hiền tài mà Đào Duy Từ và Nguyễn Hữu Cảnh là những minh chứng hùng hồn.

Cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn ( nguyên nhân chính là từ tình trạng Vua Lê- Chúa Trịnh, chứ không phải hoàn toàn do các chúa Nguyễn) diễn ra vô cùng khốc liệt mấy chục năm ròng, nhưng với chiến lược thu phục hiền tài mà chúa cha dạy, chúa Nguyễn Phúc Nguyên , kế ngôi năm 1613 (Chúa Sãi, 1563-1635 ) đã mời được danh thần về quân sự và văn hóa Đào Duy Từ từ Thanh Hóa về Đằng Trong. Do được trọng dụng, Đào Duy Từ đã đem hết tài năng của mình tận tụy giúp chúa Nguyễn đương đầu thành công với Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài bằng việc thiết kế và chỉ đạo xây dựng hai công trình là Lũy Trường Dục và Lũy Thầy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu ( tỉnh Quảng Bình). Đây là chiến lũy quan trọng, giúp chúa Nguyễn phòng thủ hiệu quả , ngăn chặn được quân Trịnh tấn công. Đương thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên ví Đào Duy Từ như Khổng Minh của mình.

Chúa Nguyễn Hoàng luôn đau đáu với việc Nam tiến. Khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa , phần cực Nam Đại Việt là huyện Tuy Viễn trấn Quảng Nam ( biên giới đến đèo Cù Mông ) , nhờ vua Trần Nhân Tông gả con gái là Công chúa Huyền Trân cho vua Chăm Chế Mân để lấy về hai châu Ô, Rí. Để mở rộng bờ cõi, năm 1611 , khi đã 87 tuổi, Nguyễn Hoàng vẫn sai Chủ sự Văn Phong vượt đèo Cù Mông đánh Chiêm Thành lập ra phủ Phú Yên chia làm 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Đó là cuộc Nam tiến đầu tiên của Chúa Tiên. Nhân dân truyền tụng rằng, trước khi mất, ông đã dặn con trai chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên: "Nếu thấy đánh được mà thống nhất giang sơn thì làm...Bằng không thì hòa hoãn chờ thời cơ. Nhưng phải tiến xa về phương Nam. Nơi nào thu phục được thì di dân vào, lập làng lập xã, đặt chức sắc cai trị mà giữa đất..."( Nhất Lâm- Hoài niệm Ái Tử...).

Theo lời dặn của chúa Tiên, các thế hệ con cháu nối ngôi Chúa sau này đã liên tục Nam tiến. Đầu năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu phái Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh ( một tướng tài người Quảng Bình, hậu duệ đời thứ 7 của Nguyễn Trãi ) làm Thống binh đem quân đánh chiếm, thành lập trấn Binh Khang (đất Khánh Hòa- Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay). Theo Đại Nam thực lục tiền biên thì vào tháng 2 năm Mậu Dần (1698), chúa Hiến Tông tiếp tục phái Lễ Thành Hầu làm Thống suất vào chinh phục đất Nam Bộ. Vùng đất này ngày ấy bao gồm từ khu vực Cù Lao Phố đến Mỹ Tho bên này sông Tiền, có khỏang 40.000 hộ dân. Theo Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí , Nguyễn Hữu Cảnh đã " lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy đất Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để quản lý, lập các đồn binh trấn giữ. Đất đai mở rộng ngàn dặm, cho chiêu mộ lưu dân từ Bố Chánh ( Quảng Bình) , Ngũ Quảng, đến ở khắp nơi, đặt ra phường, ấp, xã, thôn, chia cắt địa phận, mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn định thuế đinh, điền và lập bộ tịch đinh điền. Con cháu người Hoa ở nơi Trấn Biên thì lập thành xã Thanh Hà, ở nơi Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương, rồi ghép vào sổ hộ tịch, đất đai mở rộng hơn ngàn dặm". Công lao đó là vô giá đối với dân tộc. Cuộc hành trình ấy dài đẵng 133 năm, cho đến tháng 8-1708, Mạc Cửu , một thương gia người Hoa chạy nhà Minh xuống phương Nam đã dâng đất Mang Khảm-Hà Tiên do ông cai quản cho Chúa Nguyễn . Nguyễn Phúc Chu đời Chúa thứ 6 , với sự mẫn cảm chính trị, tầm nhìn xa trông rộng đã rất vui mừng đón nhận vùng đất mới , cho lập tiểu quốc tự trị mới của Đại Việt , liền chấp nhận và đặt là Trấn Hà Tiên của Đại Việt và phong Mạc Cửu tướcCửu Ngọc Hầu, chức Tổng binh. Từ đó bản đồ Đại Việt mới được hoàn thiện như này nay.

Vùng Thuận Quảng xứ Đàng Trong của Nguyễn Hoàng và các Chúa Nguyễn khi mới vào, đất cằn, kinh tế kém phát triển, nên chín đời Chúa Nguyễn đã tìm ra một kế sách kinh tế hữu hiệu , chưa từng có ở Việt Nam: Đó là mở cửa cho thương gia nước ngoài vào làm ăn và đẩy mạnh giao thương quốc tế. Nhờ đó mà giàu có, tăng cường tiền lực quân sự, suốt hàng thế kỷ chống lại họ Trịnh Đằng Ngoài. Nguyễn Hoàng và các chúa nối ngôi đã rất chú trọng phát triển kinh tế . Các chúa Nguyễn đã biến vùng Thuận Quảng còn hoang sơ vào giữ thế kỷ XVI, trở thành một vùng kinh tế phát triển làm bàn đạp cho công cuộc mở mang bờ cõi về phía nam. Theo Lê Quý Đôn , vào thế kỷ XVII-XVIII, vùng đồng bằng sông Cửu Long là một vựa lúa của Đàng Trong với năng xuất đạt tới 100, 200, 300 lần . Các nghề thủ công hưng thịnh, quan hệ hàng hóa tiền tệ mậu dịch với nước ngoài đều phát triển nhanh chóng. Một loạt đô thị, thương cảng ra đời thu hút nhiều thuyền buôn và thương gia nước ngoài, trong đó nổi lên các cảng thị Thanh Hà ( Huế), Hội An ( Quảng Nam) , Nước Mặn (Bình Định), Vũng Lấm (Phú Yên), Gia Định (Sài Gòn), Cù Lao Phố (Đồng Nai), Mỹ Tho, Hà Tiên...buốn bán với cả Nhật Bản, Indnexia, Pilippine...

Các Chúa Nguyễn chủ trương lôi kéo tối đa các thương gia các nước Châu Á, châu Âu vào làm ăn và giao thương với Đàng Trong , trong đó đặc biệt chú ý mở rộng quan hệ đầu tư buôn bán với Nhật Bản . Các Chúa Nguyễn đã xây dựng Hội An thành những thương cảng quốc tế sầm uất để thu hút người Nhật vào làm ăn. Nét độc đáo "hiện đại nhất" , chưa từng có trong lịch sử kinh tế Việt Nam đến lúc đó là chính sách "mở cửa" của các Chúa Nguyễn . Theo sử sách thì thời Chúa Nguyễn, chỉ trong khoảng hơn 100 dặm từ Huế trở vào mà có có tới 60 cảng cho tàu nước ngoài vào buôn bán . Chính sách định cư lúc đó thoáng hơn cả thời đổi mới bây giờ . Người Nhật, Người Hoa, được định cư lâu dài, được lập phố riêng, gọi là phố Khách , phố Nhật . Thậm chí người Nhật , người Hoa được lập khu hành chính riêng, tự quản . Vị thị trưởng phố Nhật ở Hội An đầu tiên được Chúa Nguyễn công nhận năm 1618 là một nhà buôn kiêm chủ tàu tên là Furamoto Yashiro. Trong 19 địa điểm người Nhật đến buôn bán thì có 4 nơi họ được lập phố riêng. Được tự do đầu tư sản xuất, mở hiệu buôn bán và xuất khẩu hàng hóa của mình sau khi đã đóng đủ thuế ! Từ thế kỷ 17- 18, Hội An đã thực sự trở thành "Khu Thương mại tự do", "Đặc khu kinh tế mở" đầu tiên của Việt nam theo đúng nghĩa của từ đó hiện nay !

Trong vòng 6 năm ( 1601- 1606), đích thân chúa Nguyễn Hòang đã tám lần gửi thư và 2 lần gửi quà cho triều đình Nhật Bản với mục đích gia tăng quan hệ làm ăn. Đặc biệt, để tăng cường mối bang giao thân thiện, chúa Nguyễn Hoàng đã nhận ông Hunamoto Yabeije , một thương gia và là phái viên ngoại giao của Triều đình Nhật Bản, làm con nuôi . Sau khi Nguyễn Hoàng mất, thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên giao thương Việt - Nhật càng mở mang phát triển hơn . Chúa cho Người Nhật mở thương điếm tại Hội An. Chúa Sãi đích thân viết thư mời các thương nhân nước ngoài vào làm ăn tại Hội An. Năm 1634, chúa Sãi gửi thư cho thương gia người Nhật là Toba, ông này được Chúa nhận làm con nuôi .Năm 1619, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả một con gái của mình cho Araki Sutaru - một thương nhân Nhật Bản . Ông này đã trở thành Hoàng Thân của Chúa Nguyễn , mang tên Việt. Theo sách của " Xứ Đàng Trong- Lịch sử kinh tế và xã hội thế kỷ 17 và 18" của Litana ( NXB Trẻ dịch, 1999) , thì chính hai ông Nhật con nuôi và rể của Chúa Nguyễn này đã cầm đầu 17 chiếc thuyền trong tổng số 84 chiếc thuyền buôn của Nhật đến Đàng Trong từ năm 1604- 1635. Đó là cách dùng quan hệ gia đình để tăng cường mối bang giao thân thiện để bảo vệ đất nước và thúc đẩy ngoại thương. Hiện nay, ngôi đền thờ hai ông bà Sutaru vẫn còn ở Nagarsaky . Đại Nam liệt truyện tiền biên ghi rằng , chúa Sãi có 11 người con trai, bốn con gái. Công nữ đầu là Ngọc Liên là vợ của phó tướng Nguyễn Phúc Vĩnh , trấn thủ dinh Trấn Biên; công nữ thứ tư là Ngọc Đĩnh ,vợ của phó tướng Nguyễn Cửu Kiều, trấn thủ dinh Quảng Bình. Hai công nữ thứ hai và thứ ba tên là Ngọc Vạn và Ngọc Khoa. Một người gã cho thương gia Nhật đã nói ở trên .Năm 1620 vua Chey Chêtthâ II quyết định cầu hôn con gái Chúa Sải Đằng Trong, với ý định tìm một chỗ dựa về chính trị và quân sự nhằm đối phó với các cuộc xâm lược của quân đội Xiêm. Sử sách không ghi rõ ai là người làm Hoàng hậu Chân Lạp, nhưng nhiều người cho rằng đó là công nữ Ngọc Vạn. Sách Phúc Nguyên tốc thế phả ( NXB Thuận Hóa, 1995) ghi :"Hoàng Hậu Chân Lạp, húy là Nguyễn Phúc Ngọc Vạn, trưởng nữ của đức Hy Tông... Tiểu sử không rõ. Năm Canh Thân ( 1920) bà được đức Hy Tông gả cho vua Chân Lạp là Chey Chêtthâ II. Về sau, nể tình bà, vua Chân Lạp đã cho người Việt lập một dinh điền tại Mô Xoài ( Bà Rịa ngày nay). Mối quan hệ "su gia" đó đã tạo nên thế để mở rộng đất đai Nam Bộ . Ngọc Vạn cũng giống như Công chúa Ngọc Hân, nhưng tiếc là công tích của bà không được ghi vào lịch sử.

Thời kỳ này, các thương gia nước ngoài đều được Chúa Nguyễn thu hút . Nhật bản, Trung Hoa, Hà Lan, Bồ Đào Nha là những khách hàng và "nhà đầu tư" lớn nhất của Đằng Trong vào thời kỳ này. Cũng theo Litana trong sách đã dẫn, Ryukyu ( tức Okinawa ngày nay) vốn nổi tiếng tại châu Á từ thế kỷ XIV- XVI, có mối quan hệ với hầu hết các nước Châu Á, chỉ trừ Việt Nam và Luzon. Nhưng sau chính sách "mở cửa" của Chúa Nguyễn thì " Vương quốc họ Nguyễn được đặt ở đầu danh sách các nước ở lục địa Đông Nam Á có quan hệ thương mại với Nhật Bản "( dẫn theo Đỗ Quỳnh Nga ) 

Chúa Nguyễn còn tổ chức các " Hội chợ quốc tế" tại Hội An hàng năm từ tháng 2 đến tháng 5 âm lịch đã thu hút thương gia từ hàng chục nước Châu Âu, Châu Á tham dự. Tàu buôn Nhật Bản, Trung Hoa, Malayxia , Philippin, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp...đến buôn bán tại Hội An ngày càng nhiều ... Theo Lê Quý Đôn trong "Phủ biên tạp lục " thì bộ máy quản lý ngoại thương của Chuá Nguyễn khá chặt chẽ , có tới 12 chức quan được Chúa phân công trực tiếp theo dõi từng công việc cụ thể mỗi khi tàu buôn nước ngoài cập cảng Trong 3 năm từ 1771- 1773, có 36 tàu buôn nước ngoài vào của Thuận An, nhiều nhất là tàu Trung Hoa, Nhật Bản . Buôn bán giao thương quốc tế đẩy mạnh nên sản xuất của các địa phương, đặc biệt là Quảng Nam phát triển rất mạnh. Quảng Nam đã sản xuất ra nhiều loại hàng hóa từ tơ lụa chất lượng cao, khai thác yến sào được quản lý chặt hơn, các làng gốm trong cả nước đều đưa hàng đến Hội an để xuất khẩu .

Các tàu buôn Nhật Bản , Tây Tạng ( Trung Quốc) và các nước Đông Nam Á đưa các thứ hàng công nghiệp , kim khí như kẽm, đồng đỏ đến Hội An và "ăn" các loại lụa cao cấp như lượt ( lụa trơn), xuyến ( lụa trơn sáng) , nhiễu, lãnh, đọan..., cùng với các mặt hàng gốm sứ cao cấp Bát Tràng ( Hà Nội), Chu Đậu ( Hải Dương), Đồ Bàn ( Bình Định) , gốm Thanh Hà, mộc Kim Bồng, yến sào Qảng Nam, Khánh Hòa , Hồ tiêu Quảng Trị, ngà voi.v.v... cung ứng cho thị trường các nước. Do chính sách "cấm vận " khắt khe của vua Minh Thái Tổ, tàu nước ngoài không được đến Trung Hoa, nên các thương gia Nhật Bản phải thông qua thị trường Hội An mới mua được các loại hàng Trung Quốc . Sức thu hút do chính sách mở cửa giao thương quốc tế đã tạo nên một Hội An giàu có, thịnh vượng suốt 200 năm. 

Các chúa Nguyễn, vương Triều Nguyễn còn có công lớn trong việc thiết lập chủ quyền trên các hải đảo ven bờ và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên Biển Đông. Chúa Nguyễn đã thành lập những đội Hoàng Sa, thay phiên nhau ra bảo vệ và thu hoạch nguồn lợi trên đảo là những bằng chứng về "tầm nhìn biển đông" mà thế kỷ XX chúng ta là cháu con vẫn chưa nhận thức hết ! Những đội Hoàng Sa các chúa Nguyễn lập, và tấm bản đồ "Đại Nam Nhất thống toàn đồ" vẽ dưới thời vua Minh Mạng trong đó bao gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa là những bằng chứng hùng hồn về chủ quyền lãnh thổ Việt anm trên biển.

Dù mở cửa hội nhập, nhưng các chúa Nguyễn vẫn kiên quyết bảo vệ lãnh hải quốc gia. Bằng chứng là 2 trận thắng oanh liệt của thủy quân Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần ( 1620- 1697) trước hạm đội Hà Lan hùng mạnh. Tháng 11-1641, hai con tàu của Hà Lan bị quân đội chúa Nguyễn đánh đắm gần bờ biển đảo Cù Lao Chàm do xâm phạm lãnh hải. 82 người lính Hà Lan bị chúa Nguyễn bắt giam ở Hội An và Chúa Nguyễn đã tịch thu cả hai con tàu đó. Tháng 7- 1643 , chiến hạm Hà Lan với sự kêu cứu của họ Trịnh , đã điều động một hạm đội gồm 5 tàu chiến do Pitre Baek chỉ huy tiến đánh quân Nguyễn, liền bị 50 tàu chiến của chúa Nguyễn bất ngờ tấn công ở ngoài khơi sông Gianh, " Tàu hoa tiêu của Hà Lan bị tiêu diệt, Baek bị giết, hai tàu khác phải mở đường máu tháo chạy" ...

Chúa Nguyễn Hoàng là Tổ của Vương triều Nguyễn, vương triều đã làm nên hai di sản thế giới là Quần thể Di tích Cố đô Huế và Nhã nhạc Cung đình Huế. Vương triều đã tổ chức biên soạn những bộ sử lớn của đất nước. Những Di sản văn hóa đó mãi mãi trường tồn cùng non sông đất nước, tạo ra nội lực tinh thần cho công cuộc phục hưng dân tộc.v.v...

Công lao Nguyễn Hoàng lớn lao như thế, nhưng điều đau lòng là một thời giới sử học cực đoan, giáo điều, đã phủ nhận công lao đó. Nhiều thế hệ học sinh Việt Nam đã được dạy dỗ rằng "Chúa Nguyễn kẻ là nguyên nhân gây ra cuộc nội chiến Trịnh-Nguyễn phân tranh chia cắt đất nước, các vua Nguyễn là bán nước, bạc nhược, "cõng rắn cán gà nhà", là thời kỳ suy đồi, chuyên chế phản động nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam...". Khuynh hướng đó gần như trở thành quan điểm chính thống trong biên soạn sách giáo khoa lịch sử suốt mấy chục năm liền. Trên thực tế sau 1975, tất cả những công trình gì liên quan đến tên các chúa Nguyễn, Triều Nguyễn trong cả nước đều bị dẹp bỏ tên thay bằng những cái tên khác Cách thức dạy lịch sử, đặt tên đường, tên trường học phản lịch sử như thế không bao giờ tạo được lòng yêu nước trong lòng các thế hệ trẻ. Nhưng cũng đáng mừng là ở Bảo tàng Quảng Trị đã có có tượng chúa Nguyễn Hoàng rất uy nghi, có cụm tượng " bảy cụ bô lão dâng bảy vò nước trong cho Chúa Nguyễn Hoàng khi Chúa đến lập dinh cơ đầu tiên ở Quảng Trị . Ở Huế mấy năm nay đã có đường Nguyễn Hoàng lên chùa Thiên Mụ, rồi đường Tự Đức. Đó là điều mừng, nhưng Nguyễn Hoàng không chỉ ở bảo tàng. Nguyễn Hoàng là sự tri ân sống động của vùng đất này, đất nước này. Đi trên phố ở thị xã Đông Hà , thủ phủ tỉnh Quảng Trị, nơi Chúa Tiên đã sống 55 năm với công cuộc hành phương Nam mở cõi, thế mà chẳng có một tên đường , ngôi trường nào mang tên ông. như trường nữ sinh Đông Khánh (Huế), trường Phan Thanh Giản, ở Cần Thơ, Bến Tre, Petrus Ký ở Sài Gòn , rồi đường Duy Tân, Hàm Nghi... ở Huế.v.v..Điều lạ lùng là Chúa Tiên Nguyễn Hoàng ở Quảng Trị ( thực tế tên địa danh lúc đó là Thuận Hóa- Phú Xuân, vì năm 1820 cái tên Quảng Trị mới được vua Minh Mạng đặt ) từ 450 năm trước, đáng ra con đường lớn nhất ở thị xã Đông Hà và thị xã Quảng Trị phải là con đường mang tên Nguyễn Hoàng. Ngay cái tên Nguyễn Hoàng mà trường Trung học phổ thông thị xã Quảng Trị mang từ năm 1953 cũng bị xóa cho đến nay chưa được trả lại. Ngôi trường đó đã đào tạo ra một thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam như Trần Kiêm Đoàn, Nguyễn Đức Tùng , Võ Quê, Thái Đào, Võ Văn Luyến, Võ Văn Hoa,Võ Thị Quỳnh.v.v..Đó là điều đau đớn cho mảnh đất nơi chúa Tiên đã chọn làm nơi "dung thân vạn đại"...

Nhưng nhân dân luôn là người nhận chân được lịch sử đích thực. Tên của những đạo quân xưa của Chúa vẫn được dân đặt cho tên làng xã , ruộng đồng ở Quảng Trị. Theo nhà văn Nhất Lâm ở làng An Tiêm quê anh có đồng Phủ là Phủ Chúa xưa , có làng Mô Súng, Kên Xưởng là xưởng đúc súng của Chúa , rồi tên làng ở Triệu Phong như Hậu Kiên, Trung Kiên, Hữu Kiên... đều xuất phát từ tên của 5 đạo quân của Nguyễn Hoàng là Tiền Kiên, Trung Kiên, Tả Kiên, Hữu Kiên, Hậu Kiên. ở Ái Tử có chợ Sải là chợ do Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, con Nguyễn Hoàng lập. Theo Lê Đức Dục, ở Trà Liên, Triệu Phong có cái am nhỏ thờ pho tượng đồng Nguyễn Ư Dĩ , được xem là "bảo vật quốc gia" tại Quảng Trị , được dân cúng giỗ quanh năm như thái phó Nguyễn Ư Dĩ . Thái phó Nguyễn Ư Dĩ - tước Uy Quốc công, là cậu ruột của Nguyễn Hoàng, người đã nuôi dạy Nguyễn Hoàng từ khi mới 2 tuổi lúc Nguyễn Kim (thân phụ Nguyễn Hoàng) lánh nạn sang Lào. Người đã thay mặt Nguyễn Hoàng đi lĩnh ý Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi sau đó theo phò tá Nguyễn Hoàng trong buổi đầu đến Ái Tử. Pho tượng Nguyễn Ư Dĩ được đúc bằng đồng vào khoảng thế kỷ 17, được đặt tại chùa có tên là Liễu Ba, nay không còn nữa, nhưng tượng Thái phó vẫn được dân bảo vệ cho đến ngày nay...

Ở miền Tây Nam Bộ những cái tên như Rạch Lòng Ông Chưởng ,Vàm Lòng Ông Chưởng, dinh Ông, Cù lao Ông Chưởng... đều là tên đặt để nhớ ơn tướng tài của Chúa Nguyễn Nguyễn Hữu Cảnh. Ở Bến Tre có một con sông tên là Cổ Chiên. Tương truyền, một lần chúa Nguyễn qua đây, thấy một chú rùa nổi lên bảo rằng hãy ném trống và chiêng xuống sông cho cá sấu sẽ thoát nạn. Và chúa đã lấy trống chiêng tức là Cổ Chiên đặt tên sông. Nhân dân đã gọi tên ấy cho đến bây giờ.

Nhân dân miền Nam luôn yêu mến và nhớ ơn các chúa Nguyễn, Triều Nguyễn đã cho họ một quê hương, để họ không còn là người dân tha hương hát những khúc ly hương buồm thảm...

Theo blog ngominh.vnweblogs.com - Ngô Minh
--------------------------------------
Ý kiến bình luận (chép lại từ bản gốc blog Ngô Minh)

28/12/2008, 11:50

Chào anh!
Dạo này cuối năm em bận lắm không ghé thăm anh em đều được!
Cảm ơn anh ghé thăm động viên em út.
Chúc anh chủ nhật vui vẻ


Viết bởi Thanh Trắc Nguyễn Văn Gởi anh Ngô Minh [ Trả lời ]
28/12/2008, 12:14

Cảm ơn bài viết của anh Ngô Minh. Đã mấy mươi năm nay tôi rất phẫn uất vì các "sử gia vô ơn" đã phê phán các chúa Nguyễn quá nặng nề.

Tôi đang sống ở Sài Gòn, đất của các chúa Nguyễn mở cõi. Tôi đang ăn hạt gạo đồng bằng sông Cửu Long, hạt gạo trên đất chúa Nguyễn. Tôi đang uống nước sông Đồng Nai, dòng sông ngọt ngào trên đất chúa Nguyễn.

Các "sử gia vô ơn" viết rất "hay". Các chúa Nguyễn là nguyên nhân chia cắt đất nước. Nguyễn Hoàng và con cháu ông mở đất gần bằng nửa nước sao không nói? Không lẽ Nguyễn Hoàng đưa đầu cho họ Trịnh chém à? Trong Tam Quốc Chí có ai kết tội các vị như Lưu Bị, Tôn Quyền, Tào Tháo đâu. Bài hát trong phim gọi họ là các anh hùng, nghĩa là anh hùng lập nghiệp thời loạn. Thế àm ở nước ta...

Có một điều sử gia Việt Nam luôn tránh né. Vì sao triều Tây Sơn thất bại quá nhanh khi vua Quang Trung mất? Đó là do lòng người còn nhớ ơn chúa Nguyễn. Có thể họ không thích Nguyễn Ánh, nhưng họ không thể quên được công lao các chúa Nguyễn. Vì vậy nhiều tướng tài, nhiều quân sĩ , nhiều dân chúng sẵn sàng trung thành, che chở cho Nguyễn Ánh khi ông ta bôn tẩu. Và mỗi khi Nguyễn Ánh trở về hô một tiếng thì luôn có hàng ngàn người đi theo vua Gia Long đánhTa6y Sơn ngay

Thanh Trắc Nguyễn Văn

Viết bởi Thanh Trắc Nguyễn Văn Gởi anh Ngô Minh [ Trả lời ]
28/12/2008, 12:29

Rất cảm ơn tấm hình chúa Nguyễn Hoàng của anh. Tôi đã đưa tấm hình vào blog Thư Viện của tôi mời anh ghé thăm :


Thanh Trắc Nguyễn Văn

Viết bởi Ngô Minh Gửi THanh Tịnh [ Trả lời ]
28/12/2008, 13:15

Cám ơn Thanh Tinh đã ghé thăm nhà. Chúc sức khỏe.

Viết bởi Ngô Minh Gửi THanh Trắc Nguyễn Văn [ Trả lời ]
28/12/2008, 13:19

Không ai xóa được lịch sử. Không ai làm mờ được những người con vì dân tộc này đã dốc lòng vì nước. Lịch sử một thời khốn nạn phải trả giá vì bị dân chúng nguyền rủa. Ngô Minh muốn dựng nên một chân dung Nguyễn Hoàng đích thực để người đọc hiểu hơn về công lao các chúa Nguyễn, triều Nguyễn.Chúc Thanh Trắc Nguyễn Văn khỏe vui.


Viết bởi Van Luyen [ Trả lời ]
28/12/2008, 15:19

Anh Ngô Minh ơi, bài "Nguyễn Hoàng linh vọng" rất cần cho sự phản tỉnh của các "đấng, bậc" trên đất QT. Nếu anh cho phép, em sẽ lấy lại đăng trên trang VVL. CHÚC ANH NĂM MỚI NHIỀU NIỀM VUI!

Viết bởi ductien Lời cảm [ Trả lời ]
28/12/2008, 15:39

Một bài viết có thêm luận cứ để tôn Vinh chua Nguyễn Hoàng ! Công trời bể mà cho tới nay chưa được đánh giá công bằng thì thật là môtk khiếm khuyết của đời nay rồi ! Chúc mừng anh có bài viết công phu !


Viết bởi Ngô Minh Gửi Văn Luyến [ Trả lời ]
28/12/2008, 15:56

Cám ơn VVL đã chia sẻ. Ở Quảng Trị, Đông hÀ, cái Tên Nguyễn Hoàng sang trọng và tự hào hơn nhiều cái tên được đặt tên đường phố khác. Rất tiếc là bọn người vô ơn đã cố tình quên mất lịch sử. Chú khỏe.

Viết bởi Ngô Minh Gửi Đức Tiên [ Trả lời ]
28/12/2008, 15:59

Tại sao người Quảng Trị lại quên mất lịch sử của mình ? Đó là một sự sỉ nhục. Không biết còn ai còn lương tâm để tìm về cội nguồn nữa không ? Cám ơn Đức Tiên đã chia sẻ.

Viết bởi phanvanquang [ Trả lời ]
28/12/2008, 22:02

Nếu là người Quảng Trị phải đọc bài viết này.Cám ơn Ngô Minh.

Viết bởi Tấn Định Gửi anh Ngô Minh [ Trả lời ]
28/12/2008, 22:10

Tất cả những ai muốn được ghi tên vào bảng vàng "ĂN QUẢ NHỚ NGƯỜI TRỒNG CÂY" đều nên đọc bài viết này.
Cảm ơn Ngô Minh!

Viết bởi dinhtrong [ Trả lời ]
28/12/2008, 22:22

Chúc mừng Ngô Minh. Chúc mừng "Gọi lá". Vẫn biết rằng (Trên mỗi bậc trang thơ/ Tôi leo lên/ Khó nhọc/ say mê/ Vẫn biết rằng: Cửa Vinh Quang rất hẹp/ Trên mỗi bậc trang thơ....Nhận ra được điều đó Ngô Minh sẽ đi xa hơn ...

Viết bởi Ngô Minh Gửi Phan Văn Quang [ Trả lời ]
29/12/2008, 07:26

Là người Quảng Trị phải hiểu sâu sắc và tự hào là mình có Chúa Nguyễn Hoàng. Tiếc là những người lãnh đạo đã không hiểu điều đó. Cám ơn Phan Văn Quang đã chia sẻ.

Viết bởi Ngô Minh Gửi Tấn Định [ Trả lời ]
29/12/2008, 07:28

Cám ơn Tấn Định đã chia sẻ. NM cầu mong tên Nguyễn hoàng sẽ được đặt cho một con đưoqngf lớn nhất, một ngôi trường lớn nhất ở Quảng Trị.

Viết bởi Ngô Minh Gửi Dinhtrong [ Trả lời ]
29/12/2008, 07:30

Cám ơn Bạn đã chúc mừng GỌI LÁ. NM già rồi, không thể " đi xa" về thơ được nữa đâu. Chúc khỏe.


Viết bởi Huy Tập Gửi Ngô Minh [ Trả lời ]
29/12/2008, 07:37

Bài này viết rất sâu rất mạnh, đã đụng tới căn nguyên nhận thức lịch sử. Bài này không thể đứng trong blog mà nên đăng tải trên các báo ,vì nó đụng tới vấn đề nhậy cảm Tổ Quốc hiện nay.
HT tự nhiên thấy sướng vì mình danh phận đàng ngoài lại đang hoạt động cách mạng ở đàng trong.Hi..hi.

Viết bởi Ngô Minh Gửi Huy Tập [ Trả lời ]
29/12/2008, 08:23

Bài này NM viết theo đơn đặt hàng của Ban liên lạc học sinh Trường Nguyễn Hoàng (quảng Trị- trường đã bị đổi tên sau 1975) để họ in vào tập đặc san Nguyễn Hoàng của họ. Thấy bài viết tốt, NM đã in trên báo Tiền Phong cuối tuần và Tap chi Kiến Thức Ngày nay. Cám ơn Huy Tập đã chia sẻ.

Viết bởi phuong nam gui anh ngo minh [ Trả lời ]
03/11/2009, 09:31

anh co the noi ro hon ve vai tro cua chua Nguyen Hoang doi voi Dang Trong ve cac mat duoc ko

Viết bởi Ngô Minh Gửi Phương Nam [ Trả lời ]
03/11/2009, 17:39

Nguyễn Hoàng là Ông Tổ khai canh đất Phương Nam , từ Dèo Hải Vân vào đến CÀ Mau

Viết bởi ngkhacphuoc [ Trả lời ]
08/11/2009, 11:59

Cho Tình Quê xin bài này, anh Ngô Minh nhé.

Viết bởi Ngô Minh Gửi ngkhacphuoc [ Trả lời ]
08/11/2009, 14:29

Tình Quê cứ in, nhưng nhớ trả "Nhuận rượu" đấy nhé.
Chúc vui.

Viết bởi lv lv [ Trả lời ]
03/08/2010, 11:51

lv handbags is made of signature lv wallets canvas and calf skin and louis vuitton purses is extremely durable in every day life.

Viết bởi mandala1347 CHAN THANH [ Trả lời ]
03/06/2011, 09:04

bai bay cung thuong thoi
kien thuc cung xua cu roi
chi duoc cai la noi dung su that VA CO NHIET TAM
dung buon nghen bac

Viết bởi hung [ Trả lời ]
04/04/2012, 23:44

Anh Ngô Minh ah,người Việt Nam còn có cả họ Nguyễn Hoàng nữa đó.nhưng theo chú bác nên đặt cái tiêu đề cho bài viết của bác là ''Vinh danh họ Nguyễn'' mới đúng hơn.Bác à Họ Nguyễn ngoài cái công còn có cái tội nữa đó,theo chú Bác nên phải làm rõ cái tội của họ Nguyễn là do khách quan hay do chủ quan để Bài vinh danh của Bác tốt hơn chứ/ Bài cuả bác là vinh danh thì chưa thể phê phán găy gắt các sử gia được/Theo Bác cái công và cái tội của Họ Nguyễn cái nào lớn hơn/

Đánh giá lại Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn: Một hội thảo lịch sử

[Nhà Nguyễn] Đó là đánh giá của một số đại biểu tham dự Hội thảo triều Nguyễn, chúa Nguyễn: Nhìn nhận lại khách quan, khoa học, công bằng trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19 vừa diễn ra trong hai ngày 18 và 19/10/2008 tại Thanh Hóa.

Như TT&VH đã phản ánh, hội thảo được sự chuẩn bị nội dung trong khoảng 20 năm nhằm nhìn nhận lại khách quan, khoa học, công bằng những đóng góp cũng như mặt còn hạn chế của vương triều Nguyễn. Trong ngày hôm qua 19/10, các đại biểu thảo luận về các nhóm đề tài: Mở mang lãnh thổ và xác lập chủ quyền trên đất Nam Bộ; chính sách đối nội và đối ngoại của triều Nguyễn, nhân vật lịch sử thời chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn; quan hệ Nguyễn - Tây Sơn và vấn đề thống nhất đất nước; tình hình kinh tế xã hội; kinh tế hàng hóa và đô thị; vấn đề canh tân đất nước và thất bại của cuộc kháng chiến chống Pháp; di sản văn hóa.

Một số quan điểm thú vị đưa ra trong cuộc hội thảo nhưng do thời gian không cho phép đã không được triển khai, như làm rõ hơn về nhân vật Bá Đa Lộc là người thế nào, một cố vấn quân sự - chính trị hay chỉ là một “chuyên gia nước ngoài” - từ dùng của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân.

Theo GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, cần có nhận thức mới về nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc trên tinh thần “công minh lịch sử”. Vương triều Nguyễn vừa là tác nhân lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử xã hội, vì vậy nhận thức về nhà Nguyễn cũng phải được đặt trong bối cảnh lịch sử của dân tộc và nhân loại, xem xét cả trục “tung” (lịch sử) và trục “hoành” (đương đại) của lịch sử. Kể từ Gia Long - Nguyễn Ánh, “người dựng nên đế nghiệp cho Nguyễn triều” từ năm 1802 đến Bảo Đại, người tự nguyện thoái vị, nhận là công dân một nước Việt Nam độc lập tự do năm 1945, vương triều Nguyễn đã tồn tại 143 năm.

Không nên coi sự nghiệp thống nhất đất nước là hoàn toàn thuộc về Nguyễn Huệ, cũng như không nên dựa vào sự hoàn tất và củng cố nền thống nhất của nhà Nguyễn mà coi sự nghiệp thống nhất Việt Nam TK 18 - 19 chỉ là của nhà Nguyễn để phủ nhận công lao của Tây Sơn. Cái thống nhất của vua Gia Long nhờ cắt đất cho thực dân mà có được đã gây mầm chia cắt đất nước, không phải chia cắt nội bộ như Trịnh - Nguyễn mà là chia cắt do ngoại xâm tồn tại lâu dài. Sau này, từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, tất cả đều ân hận, lo toan giải tỏa lỗi lầm này, khắc phục hậu quả của nó bằng việc sát đạo, đuổi giáo sĩ, hạn chế giao thương với phương Tây... nhưng vẫn không sao khắc phục nổi.


Tổng kết hội thảo, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khẳng định: Cuộc hội thảo lần này đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi không chỉ của giới khoa học mà còn của dư luận xã hội, chứng tỏ những nhận thức trước đây về vai trò của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc theo hướng phê phán và phủ định đã không còn thỏa đáng nữa. Những kết quả hội thảo lần này đã đạt được cũng là kết quả của quá trình nghiên cứu từ những năm 1990 và cũng là tiếp nối của 20 cuộc hội thảo trước đó. Hội thảo lần này cũng chỉ là một bước tiếp tục nhìn nhận, đánh giá để đi đến nhận thức về một thời kỳ lịch sử kéo dài trên 3 thế kỷ với nhiều biến động lớn cả về đối nội và đối ngoại, nhằm đi đến nhận thức rõ ràng hơn, sáng sủa hơn, phục vụ việc xây dựng một bộ quốc sử chính thống. GS Phan Huy Lê cho rằng cùng với kết quả khoa học, hội thảo lần này còn góp phần giải tỏa được tâm lý mặc cảm về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn và tiến tới biên soạn một bộ chính sử về triều Nguyễn.

Cũng tại hội thảo này, Viện Viễn đông Bác cổ Pháp (EFEO) đã tặng cho tỉnh Thanh Hóa 2 bộ sách quý là: Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm do Viện Cao học Thực hành, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Viễn đông Bác cổ Pháp phối hợp thực hiện, xuất bản (bộ sách lưu giữ hơn 10.000 văn bia các loại được khắc bằng chữ Hán, gồm tổng số 10 cuốn, mỗi cuốn dày khoảng 1.000 trang). Và bộ sách thứ 2 là Đồng Khánh địa dư chí của 3 tác giả Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin. Bộ Đồng Khánh địa dư chí có tổng số 6 cuốn, mỗi cuốn dày gần 1.000 trang.

Hôm nay 20/10, đoàn chủ tịch hội thảo quốc gia này sẽ họp tổng kết chung dưới sự chủ trì của ông Vương Văn Việt - Phó chủ tịch UBND tỉnh và GS Phan Huy Lê. Đoàn thư ký sẽ tổng kết các vấn đề đã đưa ra về thời kỳ chúa Nguyễn, thời kỳ vương triều Nguyễn và về di sản văn hóa nhà Nguyễn để lại.

Theo một nguồn tin, Thanh Hóa đã chi khoản tiền gần 1 tỷ đồng cho cuộc hội thảo quan trọng này. Nếu không có nguồn kinh phí trên, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khó có thể đơn phương tiến hành cuộc hội thảo được dư luận hết sức quan tâm này.
Theo TTVH - Thế Vinh
-------------------------------

Hội thảo triều Nguyễn, chúa Nguyễn: Nhìn nhận lại khách quan, khoa học, công bằng

Hôm qua 18/10, khoảng 650 đại biểu, quan khách, giới sử học và truyền thông đã có mặt tại Thanh Hoá để tham dự hội thảo khoa học cấp quốc gia lần đầu tiên được tổ chức về “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX”, một hội thảo được coi là cảm động và thu hút sự chú ý đến không ngờ.

Từ thủa mang gươm đi mở cõi…

Cách đây tròn 450 năm, mùa đông 1558, vâng mệnh triều đình, chúa Nguyễn Hoàng đã vào Nam mở cõi. Xứ Thanh, nơi có Quý Hương (Hà Trung), có Gia Miêu ngoại trang là quê hương của chúa Nguyễn Hoàng và cũng là quê hương của nhiều bề tôi trung thành, nhiều người dân lao động đã theo chúa vào mở cõi ở phương Nam trong những năm tháng khởi nghiệp gian truân nhất. Đó là lý do để Thanh Hoá được chọn làm nơi tổ chức hội thảo quan trọng này, nhằm tiếp cận ngày càng khách quan, trung thực, gần với sự thật lịch sử nhất.

GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội KHLSVN nhận định, thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn từ thế kỷ XVI cho đến thế kỷ XIX là một thời kỳ lịch sử đã trải qua những cách nhìn nhận và đánh giá hết sức khác nhau, có những lúc gần như đảo ngược lại. Triều Nguyễn được đặt trong “khung” lý thuyết hình thái KTXH là triều đại suy vong, lâm vào khủng hoảng nặng nề, và chịu nhiều phán xét không công bằng.

GS Phan Huy Lê

Theo ông Nguyễn Đắc Xuân (Hội sử học Thừa Thiên – Huế), nhận định sai về nhà Nguyễn còn có 4 xu hướng: con cháu nhà Lê – Trịnh viết về nhà Nguyễn có những điểm sai; thực dân Pháp, Thiên chúa giáo và những người nghiên cứu nhà Tây Sơn, thích Tây Sơn đều có những đánh giá sai về nhà Nguyễn.

Hội thảo này giới hạn khung thời gian từ khi chúa Nguyễn Hoàng đi mở cõi đến cuối thế kỷ XIX, trong phạm vi thời kỳ trị vì của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong và vương triều Nguyễn trên cương vị quốc gia Việt Nam rồi Đại Nam độc lập, có chủ quyền. Thời gian trước và sau ranh giới này, cũng như thời Tây Sơn ở giữa chỉ đề cập trong mức độ liên quan cần thiết. Về thời kỳ các chúa Nguyễn, những kết quả nghiên cứu đã cho phép khẳng định công lao mở mang bờ cõi từ Thuận Hoá, Quảng Nam vào đến ĐBSCL của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Vấn đề cần đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ là phương thức khai phá có hiệu quả kinh tế cao kết hợp với việc xây dựng và củng cố chủ quyền quốc gia trên vùng đất mới.

Về vương triều Nguyễn, hội thảo tập trung cắt nghĩa sự thành bại của mỗi bên trong cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn với chúa Nguyễn; việc Nguyễn Ánh phải nhờ vào sự cứu viện của nước ngoài biểu thị tập trung trong việc cầu cứu vua Xiêm đưa 5 vạn quân vào Gia Định năm 178 và ký hiệp ước Versailles năm 1787 với Pháp; hai kẻ thù không đội trời chung là nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn, ai là người có công thống nhất đất nước, cũng như thái độ với xu hướng canh tân phát triển đất nước phát triển khá mạnh dưới thời Tự Đức và trách nhiệm của triều Nguyễn trong kết quả bi thảm trong cuộc xâm lược của thực dân Pháp.

GS Phan Huy Lê cho rằng, nhà Nguyễn đã để lại một di sản lớn lao nhất là một giang sơn đất nước trải rộng trên lãnh thổ thống nhất từ bắc chí nam, gần như tương ứng với lãnh thổ Việt Nam hiện đại, bao gồm cả đất liền và hải đảo trên biển Đông. Trên lãnh thổ đó là một di sản văn hoá đồ sộ bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể. Cố đô Huế là nơi hội tụ và kết tinh các giá trị văn hoá dân tộc trong một thời kỳ lịch sử khi mà kinh đô này lần đầu tiên trong lịch sử trở thành trung tâm chính trị, văn hoá của một quốc gia tương đương Việt Nam hiện đại. Quần thể di tích cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới từ 11/12/1993 và ngày 7/11/2003 Nhã nhạc cung đình lại được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại. Trong số các đô thị hình thành và phát đạt trong thời kỳ này, Hội An là cảng thị tiêu biểu nhất và khu di tích phố cổ Hội An cũng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới ngày /12/1999.

“Chưa có một thời kỳ lịch sử nào để lại cho dân tộc ba di sản văn hoá được thế giới công nhận và tôn vinh với những giá trị mang ý nghĩa toàn cầu như vậy” – GS Phan Huy Lê nhận xét. Ông cũng cho rằng trong thời gian ngắn ngủi hai ngày, những quan điểm trái ngược nhau về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn hoặc là thống nhất được, hoặc xích lại gần nhau, hoặc đưa ra một nhận thức mới hoặc đặt ra một số vấn đề mới tiếp tục nghiên cứu.
-------------------------------

Cần xem xét lại SGK và việc đặt tên đường phố

Nguyên TBT Lê Khả Phiêu trả lời phỏng vấn báo chí.
Người mặc áo trắng đứng sau là trưởng tộc Nguyễn ở Gia Miêu
90 bản tham luận của các nhà sử học, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã được gửi về hội thảo. Người ta thấy nhiều quan chức quê Thanh Hoá có mặt trong hội thảo này, như nguyên TBT Lê Khả Phiêu, cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Di Niên, cựu Bộ trưởng bộ NN&PTNT Lê Huy Ngọ… Trao đổi với báo giới, nguyên TBT Lê Khả Phiêu tâm tư: “Tôi quan sát thấy ở miền Bắc không có con đường nào mang tên triều Nguyễn”.

Trao đổi riêng với TT&VH, GS Phan Huy Lê nhận định: “Hội thảo này đã có 20 năm chuẩn bị, xuất phát từ yêu cầu nhận thức khoa học lịch sử đúng đắn. Trước đây đã hình thành xu hướng gần như phủ định nhà Nguyễn, một thái độ không phù hợp với lịch sử. Phải có đánh giá khách quan, công bằng, và gần với sự thật lịch sử nhất. Bên cạnh đó, triều Nguyễn có liên quan mật thiết với thời đại của chúng ta, đó là chưa kể tới việc người họ Nguyễn có thể coi là đông con cháu hàng đầu Việt Nam. Những nhận định thiếu khách quan, công bằng đã gây tâm lý xã hội ấm ức, thậm chí bất bình. Dân chúng nhìn nhà Nguyễn khác các nhà khoa học, vì sao vậy? Đây là câu hỏi chúng ta cần phải trả lời. Trên tinh thần nhận thức khoa học sẽ có tính thuyết phục cao, tiến tới giải toả tâm lý xã hội trong cộng đồng dân cư, như ở Thanh Hoá, ở Huế, ở Nam Bộ. Khi nói một vương triều là bán nước thì di sản còn lại có giá trị gì nữa?”

Về SGK và tên đường phố, GS nhận định: “SGK, sách phổ cập cần có chỉnh sửa cho phù hợp. Tất nhiên sớm là khó, và tất nhiên không phải nhảy từ cực đoan này sang chiều cực đoan khác. Không nên hiểu nhận thức mới là giải quyết toàn bộ các vấn đề. Vương triều nào cũng có vấn đề của nó, nhà Hồ, nhà Mạc chúng ta đều đã hội thảo cả rồi, nhưng nhà Nguyễn là gay cấn nhất. Cũng là mất nước nhưng An Dương Vương khác, Hồ Quý Ly khác, nhà Nguyễn khác. Phải phân tích đầy sức thuyết phục. Lộ trình sửa sách giáo khoa thì thẩm quyền thuộc về Bộ GD&ĐT, chứ chúng tôi có quyền gì đâu? Chúng tôi đưa ra quan điểm để cơ quan có thẩm quyền xem xét. Nhưng, Bộ GD&ĐT và các bộ phận chuyên trách không phải cứ ngồi một chỗ để chúng tôi mang công trình đến cho các anh. Phải tự vận động. Tôi quan sát sau 1975, tại miền Nam tên đường phố triều Nguyễn là bị bỏ sạch cả. Dân không hiểu nhưng không giải thích nổi. Sắp tới có thể Hội sử học sẽ kiến nghị với UBND TP Hà Nội đưa vào một số nhân vật nổi bật của thời kỳ này để đặt tên đường”.

Cuối buổi trò chuyện, GS cười vui: “Nếu thời nào cũng giải quyết được tất cả các vấn đề thì giới sử học chúng tôi thất nghiệp à?”
-----------------------------
Bên ngoài sảnh chính của nơi diễn ra hội thảo, những hình ảnh của Đoàn làm phim “Đi tìm dấu tích 3 vua” (Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân) được trưng bày khiến cho người xem không khỏi xúc động và tự hào, từ những lăng mộ hoang tàn ở Huế đến nghĩa trang Ba Đồn - nơi chôn những người dân bị thảm sát vì theo phong trào Cần Vương, hình ảnh quần đảo Reunion - nơi vị vua yêu nước Duy Tân bị lưu đày… Ngay trước giờ khai mạc hội thảo, sau màn trình diễn trống đồng, 10 phút trong bộ phim vừa hoàn thành đã được công chiếu, và cử toạ đã phải ngồi lặng trước màn hình khi giọng nhà thơ Nguyễn Duy cất lên: “Thịt da lưu lạc xứ người-mà linh hồn vẫn ở nơi quê nhà”…
-----------------------------
Theo TTVH - Thế Vinh

Nhà Nguyễn - lịch sử thăng trầm của một dòng họ - Kỳ cuối: Khơi dòng lịch sử

Đà Nẵng lấy tên chúa Nguyễn Hoàng
 đặt cho một con đường ở quận Hải Châu
trung tâm thành phố -Ảnh: Đoàn Cường
[Nhà Nguyễn] Như bao triều đại phong kiến khác tại VN trước đây, vương triều Nguyễn cũng đã được thành lập, phát triển và lụi tàn theo nhịp phế hưng của dòng chảy lịch sử dân tộc và theo đà trôi xuôi của thời gian.

Tuy nhiên, sự đánh giá đối với vương triều Nguyễn có vẻ đặc biệt hơn so với các triều đại khác trong lịch sử nước ta. Đặc biệt ở chỗ nhiều người chưa có được sự nhất trí trong nhận thức và sự giống nhau trong quan điểm. Chẳng hạn có người cho rằng nhờ có nhà Nguyễn nên nước ta mới có được một đất nước rộng lớn và hoàn chỉnh như ngày nay, cũng có người lên án nhà Nguyễn là một triều đại “bán nước”. 

Thịnh rồi suy

Vương triều Nguyễn chỉ mới được thành lập một cách chính thức vào đầu thế kỷ 19, nhưng sự chuẩn bị để đi đến kết quả đó đã bắt đầu từ rất lâu, muộn lắm là cũng vào thế kỷ 17. Theo bước thăng trầm của lịch sử mọi triều đại phong kiến, ngai vàng của các chúa Nguyễn Đàng Trong đã bị lung lay ngay sau cái chết của chúa Nguyễn Phúc Khoát vào năm 1765. Từ đó, Quốc phó Trương Phúc Loan, một con người vừa tham quyền vừa tham tiền, đã khuấy động cả triều đình Phú Xuân.

Bằng mọi thủ đoạn gian ác, ông đã đưa hoàng tử thứ 16 của vị chúa thứ 8 Nguyễn Phúc Khoát là Nguyễn Phúc Thuần mới 11 tuổi lên nối ngôi để lợi dụng. Sự lộng quyền của Trương Phúc Loan đã làm bộ máy cai trị của nhà chúa yếu kém dần và lâm vào tình trạng “dột từ nóc dột xuống”.

Đó chính là lý do khiến ba anh em nhà Tây Sơn nổi dậy ở Quy Nhơn vào năm 1771. Năm 1777, Nguyễn Huệ đem quân từ Quy Nhơn vào đánh Gia Định, chúa tôi nhà Nguyễn phải chạy xuống Định Tường, Cần Thơ rồi Long Xuyên. Quân Tây Sơn đuổi theo, bắt được chúa và đoàn tùy tùng, họ đều bị giết, chỉ trừ Nguyễn Phúc Ánh kịp thời rời đất liền ra trốn tránh ở đảo Thổ Châu.

Sau đó, ông trở về Long Xuyên tụ tập được một số người thân tín và tái khởi binh đánh chiếm lại Sài Gòn. “Rồi từ đó, suốt 24 năm trời, từ năm 1778 - 1802, Nguyễn (Phúc) Ánh liên tiếp chống lại kẻ thù họ Nguyễn. Cuối cùng ông gây dựng được cơ đồ cũ, lên ngôi với đế hiệu Gia Long, cai trị trên một lĩnh thổ to rộng hơn bao giờ hết về trước, và lĩnh thổ này chính ông đã đặt cho tên Việt Nam” (Nguyễn Phương, 82 năm Việt sử, 1802-1884, Đại học Sư phạm Huế xuất bản, 1963).

Nếu nói công bằng thì sự thống nhất quốc gia vào đầu thế kỷ 19 không phải là công riêng của ông vua đầu triều Nguyễn là Gia Long, mà nó đã được đặt sẵn nền tảng trước đó trên dưới hai thập niên với việc xóa bỏ ranh giới sông Gianh khi quân Trịnh mở cuộc Nam chinh vào đầu năm 1775, và nhất là lúc hoàng đế Quang Trung mở cuộc Bắc phạt vào năm 1788. Việc thiết lập vương triều Nguyễn cũng dựa trên nền tảng của một số triều đại tiền nhiệm trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, mà căn cơ và quan trọng nhất của vương triều này vẫn là thời của các chúa Nguyễn.

“Thà làm dân một nước độc lập”

Gia Long là vị vua khai sáng vương triều Nguyễn, kéo dài 143 năm (1802-1945) qua 13 đời vua. Nay nhìn lại lịch sử 143 năm trải qua 13 đời vua ấy, các nhà sử học dễ nhất trí với nhau rằng có thể chia đại khái ra làm hai giai đoạn. Giai đoạn độc lập tự chủ tồn tại dưới đời các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và một phần đời vua Tự Đức. Nhưng sau cái chết của vị vua thứ tư này thì thực dân Pháp đã có thể gây áp lực trực tiếp lên chính triều đình Huế, buộc Nam triều phải ký hiệp ước Patenôtre (6-6-1884) và tước đoạt nền độc lập của Việt Nam.

Mặc dù ngay sau đó, ngọn lửa giành lại chủ quyền có lóe lên vào năm 1885 dưới thời Hàm Nghi, rồi Thành Thái và Duy Tân, nhưng lực bất tòng tâm, kinh đô thất thủ, Việt Nam hoàn toàn bị đặt dưới quyền cai trị của người Pháp. Vương triều Nguyễn đã để mất nước (cho đến năm 1945), như chính Bảo Đại đã tuyên bố khi thoái vị: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ”.

Khi đang viết bài này, tôi đọc được một cuộc phỏng vấn ngắn với nhà thơ Nguyễn Duy trên báo Lao Động ra ngày 16-7-2008, với nhan đề “Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ”. Đây là câu thơ mà Nguyễn Duy dùng để mở đầu kịch bản phim Đi tìm dấu tích ba vua do Đài truyền hình TP.HCM thực hiện. Khi trả lời câu hỏi tại sao lại phải “khơi dòng lịch sử bị nghẽn” vào thời điểm này, nhà thơ Nguyễn Duy thổ lộ: “Cho đến bây giờ nhiều người biết rằng nhà Nguyễn có công lớn đối với nước nhà, nhưng không hiểu tại sao và từ lúc nào lại bị biến dạng, bị hạ thấp một cách oan sai về thang bậc giá trị lịch sử và văn hóa”.

Nhìn chung, vấn đề nào cũng có hai mặt của nó, kể cả “tấm huy chương” mà một số sử gia, trong đó có các nhà bỉnh bút ở Quốc Sử Quán, Nội các và Hàn Lâm viện triều Nguyễn đã gắn cho vua Gia Long nói riêng và vương triều Nguyễn nói chung. Nhưng vì chính vua Gia Long là người muốn giành lại vương quyền cho dòng họ mình để thành lập triều Nguyễn với bất cứ giá nào, kể cả việc cầu viện ngoại bang, cho nên con cháu ông sau đó đã phải trả một cái giá rất đắt khi quân đội thực dân Pháp đến xâm lược nước ta.

Trong bài “Vài suy nghĩ về vị thế xứ Huế và vị thế lịch sử của nó” đăng trên tạp chí Sông Hương tháng 5-6 năm 1987, giáo sư Trần Quốc Vượng đã đưa ra một nhận định đầy công tâm và chính xác về nhà Nguyễn: “Có thời Nguyễn, chúng ta mới có được một Việt Nam hoàn chỉnh như ngày nay”. Và trong ngót hai thập niên qua, nhiều cuộc hội thảo khoa học và nhiều công trình nghiên cứu đã dần dần đem lại một cái nhìn rộng mở hơn chứ không còn gay gắt như trước đối với vương triều Nguyễn.

13 đời vua triều Nguyễn

STT
HÚY DANH
NIÊN HIỆU
THỜI GIAN TRỊ VÌ
1
Nguyễn Phúc Ánh
Gia Long
1802-1819
2
Nguyễn Phúc Ðảm
Minh Mạng
1820-1840
3
Nguyễn Phúc Miên Tông
Thiệu Trị
1841-1847
4
Nguyễn Phúc Hồng Nhậm
Tự Ðức
1848-1883
5
Nguyễn Phúc Ưng Chân
Dục Ðức
1883 (3 ngày)
6
Nguyễn Phúc Hồng Dật
Hiệp Hòa
1883 (4 tháng)
7
Nguyễn Phúc Ưng Ðăng
Kiến Phúc
1884
8
Nguyễn Phúc Ưng Lịch
Hàm Nghi
1885
9
Nguyễn Phúc Ưng Ðường
Ðồng Khánh
1886-1888
10
Nguyễn Phúc Bửu Lân
Thành Thái
1889-1907
11
Nguyễn Phúc Vĩnh San
Duy Tân
1907-1916
12
Nguyễn Phúc Bửu Ðảo
Khải Ðịnh
1916-1925
13
Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy
Bảo Ðại
1926-1945

Theo Tuoitre - Phan Thuận An

Tư vấn phong thủy

Xem thêm »

Xem phong thủy

Xem thêm »

Chúng tôi có thể giúp gì cho bạn?

Nhà tài trợ

 
TOP