Phong thủy online:

Phong thủy - Bát tự - Chọn ngày | 0909 717 141

Bài mới nhất

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong Thuỷ Sư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong Thuỷ Sư. Hiển thị tất cả bài đăng

Phong thủy: Tin nhưng phải đúng đắn và đừng mê tín


[Phong thuỷ nhà] Sau khi chúng tôi đăng bài "Phong thuỷ cần quan niệm chính tín" trích từ cảm nghĩ của Thầy phong thuỷ nổi tiếng Hongkong - Đại sư Lý Cư Minh khi nói về khoa Phong thuỷ, chúng tôi nhận được nhiều ý kiến  đóng góp và E.mail trao đổi cảm nghĩ. Hôm nay chúng tôi cho đăng lại bài viết cũ trên pháp luật thành phố mà chúng tôi đã sưu tầm hầu có thêm góp ý với nhiều bạn đọc. Theo chúng tôi, không nên xem phong thủy là yếu tố quyết định vận mệnh cả cuộc đời mình, cũng như đã trình bày trong nhiều bài viết gần đây (có liệt kê bên dưới, và nên xem lại các bài viết trước trong trang nhà).


Khi điều kiện sống đang dần khá hơn, yếu tố phong thủy bỗng được không ít người coi trọng, thậm chí rất quan trọng khi xây nhà. Trên trang web của các công ty thiết kế, nhiều câu hỏi gửi đến nhằm nhờ kiến trúc sư (KTS) xem nhà của mình có hợp hướng hay không, nếu không hợp thì hóa giải bằng cách nào, nhà sơn màu nào thì hợp…phong thuỷ.

Phong thuỷ: Chọn hướng nhà nào hợp phong thuỷ?

Phong thuỷ nhà ở[Phong thuỷ nhà] Theo Phong thủy Bát Trạch chỉ có 8 hướng nhà và chia tất cả mọi người chỉ có hai nhóm Đông và Tây Tứ Trạch ảnh hưởng suốt đời không bao giờ thay đổi, những kiến thức này phong thuỷ thực nghiệm không bàn ở bài viết này, các bạn có thể tìm thấy rất nhiều tài liệu phong thuỷ miễn phí trên mạng. Phong thuỷ Huyền Không Phi Tinh chi tiết hơn chia hướng nhà làm 24 sơn (hướng) ảnh hưởng tốt xấu theo vận khí của vũ trụ, vận khí thì luôn thay đổi theo từng giờ, từng ngày, từng tháng, từng năm, từng vận (20 năm) hay từng nguyên (60 năm).

Hướng nhà theo Phong thuỷ Huyền Không

Khi thực hành phong thuỷ, chúng tôi được biết thì sự truyền miệng từ nhiều thế hệ cho đến ngày nay mọi người vẫn cho hướng Đông là tốt nhất, cũng như đặt bếp hướng Đông lúc nào cũng tốt. Theo phong thuỷ huyền không thì, vận khí hướng Đông được xem là vượng nhất trong từ năm 1904-1923 (Vận 3).

Bát tự luận mệnh: Kỷ thổ bao dung, bính quý lai phối

Thien can Ky tho[Nhà phong thuỷ] Đại diện cho thiên can “KỶ” là “Khôn” (Thổ) và “LY” (Hỏa) . Người có thiên can “KỶ” mà thiên về “Khôn” (Thổ) là đúng cách. Sáu vạch âm (6 HÀO) là thổ đồng bằng khắp nơi, đi trên tường cây số. Người thiên về “THỔ” phải đi nhiều, thường xuyên thay đổi vị trí công tác, liều lĩnh, thường nôn nóng không bình tĩnh. Cần phải lựa trọn bạn bè, nếu không sẽ bị thua thiệt, nếu chơi với những hạng người “hót giỏi” thì càng thua thiệt hơn. Thường hay giúp đời, tạo phúc, ôn hào, chậm rãi. “Khôn” là thần vệ nữ, là người mẹ nên có tính cách như thế không thể đứng đầu chòm được; hãy nên làm phó vì không quyết được. Nữ có thiên can “KỶ” thường hay có tính tích lũy đến nhu nhược, bần tiện. Tham vọng nhiều nhưng bị bỏ lỡ nhiều cơ hội. 

Tính chất của người Thiên Can “KỶ”

Người có thiên can “KỶ” mà có “Ly” vượng sẽ thông minh, có tình thương của con người nên nhiều lúc “làm phúc phải tội”. Là người luôn giữ chữ tín nên không ưng những người “nói không giữ lời”. Có “Ly” (hỏa) thì lời nói sẽ có hồn nên sẽ trở thành Thầy giáo. 

Tuổi “Kỷ hợi” có linh tính tốt, nếu có thiên cơ sẽ làm Thầy “Tâm linh” nhưng cần chậm rãi và suy nghĩ chín chắn nếu không sẽ bị mắc bẫy.

Người có thiên can “KỶ” không bao giờ bằng lòng với chính mình, nên thường bị mất đi giá trị đích thực, tốt đẹp của gia đình. Nếu là nữ thường hay bị lầm lỗi trong suy nghĩ tình cảm (tình yêu) vì hay “đứng núi này, trông núi khác”. Đôi khi hay tự phụ, coi thường người khác. 

Bệnh của người có thiên can “KỶ” thường gặp: bệnh đau đầu, mất ngủ, huyết áp, tim. Chính vì vậy, không nên thức đêm hoặc suy nghĩ nhiều sẽ tổn thọ. Nên sống cho gia đình, không nên quá tham vọng về kinh tế “của Thiên sẽ trả Địa” mà thôi. 

Kỷ thổ bao dung, bính quý lai phối 

Thien can Ky tho 1Trong Bát tự học, Thổ được chia thành hai loại, một loại là Thổ ướt, một loại là Thổ khô. Trong thiên can, Mậu Thổ là Thổ khô, Kỷ Thổ là Thổ ướt. Trong địa chi, Thìn Sửu là Thổ ướt, Mùi Tuất là Thổ khô. 

Thổ ướt có hai khả năng, một là sinh Kim. Trong quan hệ ngũ hành, Thổ sinh Kim, nhưng trên thực tế chỉ có Thổ ướt mới sinh Kim, Thổ khô không thể sinh Kim, nếu có sinh thì cũng chỉ là hình thức. Vì vậy, Kỷ Thổ có thể sinh Kim, Mậu Thổ không thể sinh Kim. Khả năng thứ hai của Thổ ướt là tản nhiệt, khi Bát tự của một người rất nóng, muốn bổ cứu thì có thể dùng tới Thổ ướt. 

Đặc tính lớn nhất của Kỷ Thổ là khả năng làm ẩm, bao dung, có thể chứa các loại ngũ hành "Kim Mộc Thủy Hỏa" khác nhau. Phản ánh trên tính cách, người Kỷ Thổ thích hợp nhất để đảm nhiệm công việc lập kế hoạch. Do thiên can thuộc tính âm, nên người Kỷ Thổ tương đối đa nghi, và hay phản bội, đôi khi làm việc quá cẩn thận nên để tuột mất cơ hội, không thể vươn lên vị trí cao nhất. 

Kỷ Thổ rất cần phối hợp với Bính Hỏa và Quý Thủy. Người Kỷ Thổ sinh vào mùa hè cần có Quý Thủy để tưới mát, người Kỷ Thổ sinh vào mùa đông cần Bính Hỏa để xua tan cái lạnh. Do bản thân Kỷ Thổ thuộc Thổ ướt lạnh, cho dù cần Thủy, cũng phải cần Thủy của sương vào buổi sáng sớm, tối kỵ Thủy của sông, cũng chính là Nhâm Thủy. Rất nhiều người bị cuốn trôi do mưa lũ lớn, nguyên nhân thường là do Bát tự có Kỷ Thổ gặp Nhâm Thủy. 

Phong thuỷ sư huyền không

Phong thuỷ: Nhà ở cần tránh các bố cục hung sát

La ban phong thuy[Phong thuỷ khai vận] Khi mua nhà đa số chúng ta, ai cũng có một số tiêu chí riêng để lựa chọn, ngoài tiêu chí giá cả, thuận lợi đi lợi, vị trí,.. các bạn nên xem phong thuỷ, vì phong thuỷ là kiến thức lựa chọn nơi ở được vẫn có nguyên giá trị. Với quan niệm phong thủy hình thế, có một số bố cục phong thuỷ nhà ảnh hưởng bất lợi về sức khỏe, công việc và tài lộc của người ở, do vậy, trước khi mua (thuê) bạn nên cân nhắc thêm.

Phong thuỷ huyền không lưu ý với bạn những cách cục sau:

1. Phong thuỷ nhà ở nếu gần tòa nhà cao tầng rất dễ bị áp chế, bởi vì nó sẽ che chắn dương khí, âm dễ xuất hiện; Riêng nhà cao tầng ở phía sau lưng thì lại là cách cục tốt. 

2. Phong thuỷ nhà ở tránh gần đền, chùa, miếu mạo, nơi đặt bình đựng di cốt, nghĩa trang, lăng mộ, bệnh viện, nhà giam, vì  những nơi này âm khí quá vượng, không tốt cho sức khoẻ, dễ bệnh tâm thần.

3. Không nên bố cục nhà có hình chữ “T” vì theo các nhà phong thủy, kiểu nhà này không thể tàng phong tụ khí, chủ dễ bị bần hàn.

4. Nhà có khoảng trống phía trước (gọi là Minh Đường) nhỏ hẹp, như một đường kẻ vạch. Theo phong thủy hình thế “đường kẻ” này tạo ra luồng khí sát, không thể tụ khí, nếu nhà có minh đường rộng lớn, gia đình phúc lộc đầy đủ. 

5. Không nên bố cục nhà có phòng khách chật hẹp vì phòng khách kiểu này không tụ tài, vì phòng khách đại diện cho tài lộc, sinh khí của gia đình.

6. Nếu gia đình người ít thì không nên mua nhà quá to. Các nhà phong thủy cho rằng, nhà to ít người được gọi là trạch khắc nhân, còn gọi là “hư”, ở lâu sẽ không tốt, lạnh lẽo, cô quạnh.

7. Nhà khuyết góc tây nam, góc tây bắc. Kiểu nhà này không tốt cho người Mẹ và người Cha. Trên Cửu cung thì tây bắc là Càn cung, tây nam là Khôn cung ( đại diện cho Cha, Mẹ), xét từ góc độ phong thủy cần phải vuông vứt thì khuyết góc là không tốt.

8. Nếu gia đình có con nhỏ thì không mua nhà có khu vệ sinh ở hướng chính đông. Với phong thủy, kiểu bố trí nội thất như vậy sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất - tinh thần và tương lai của con trẻ.

9. Bố cục Phong thuỷ nhà ở không nên có khu vệ sinh, nhà bếp ở góc tây bắc. Kiểu nhà này được cho là chủ về hung, người ở dễ gặp những chuyện không tốt lành.

Phong Thuỷ: Nhà ở cần bố cục ngoại viên tốt

vật phẩm phong thuỷ[Phong thuỷ nhà ở ] Hiện nay, khi có quá nhiều sách phong thủy trên thị trường và có rất nhiều trường phái phong thủy, mà phong thủy ngày càng phổ biến. Với Huyền Không Phi Tinh thì bố cục ngoại viên theo tiêu chuẩn riêng biệt (kết hợp hình thế và sao khí), phải tùy vào sinh khí của ngôi nhà, mảnh đất hay môi trường mà chúng đang ảnh hưởng đến bạn. Bài viết này chúng tôi mong muốn gửi đến các bạn những qui luật căn bản và tổng quát nhằm có bố cục ngoại viên tốt.
Điều trước tiên, đừng nên trồng cây hay cột đèn trang hoàng trước ngay cổng chính sẽ ảnh hưởng sinh khí vào trong nhà, nếu cây có tàn lớn cần cắt tỉa thường xuyên vì có thể dẫn đến vấn đề khó khăn về tài chính. Lối đi từ vườn dẫn vào trong nhà phải không bị cản trở hay phải dọn dẹp những đồ hỗn độn, rác rến phải đậy lại và phải để xa lối vào nhà. Vì theo phong thuỷ học lối đi lấy sự thông thoáng làm trọng.

Điều quan trọng, đừng đổi lối vào của cửa chính hay lối vào ngoại viên, vì sự thay đổi đó sẽ làm thay đổi chính yếu trong tòa nhà, ngoại trừ bạn được sự thẩm định của thầy phong thủy chuyên nghiệp, vì bạn có thể tạo sự khó khăn lớn cho chính mình. 

Cổng và cửa chính đúng phong thuỷ phải tùy theo ngôi nhà lớn nhỏ mà quyết định độ lớn nhỏ (tỷ lệ cân đối):
  • Cổng, cửa chính kéo vào khi đi ra tốt hơn là kéo ra khi đi vào. 
  • Cổng, cửa chính phải có tính cách mời gọi, mở ra dễ dàng và tránh những vật thể nhọn chĩa vào. 
  • Không nên che, bít kín cổng, cửa chính với những dây leo. 
  • Luôn luôn giữ gìn sạch sẽ cổng, cửa chính, không nên để bị rỉ sét.
  • Ranh giới không nên quá gần với ngôi nhà để sinh khí được chuyển động xung quanh nhà. 
  • Hàng rào không nên cao hơn ngôi nhà sẽ làm cho nhà mất thăng bằng, khí sẽ trở thành xấu và sẽ đem lại những điều không tốt cho những người thường trú. 
  • Chiều cao của hàng rào hay tường phải bằng nhau ở xung quanh. 
  • Cẩn thận với những hàng rào có hình dạng hay thiết kế với những kiểu nhọn nếu chĩa vào trong nhà sẽ hại cho chủ nhà hay sẽ hại người láng giềng nếu chĩa vào nhà người khác.
Phải cố gắng tạo Phong thủy tốt hài hòa cho chính mình nhưng cũng không nên làm thương tổn bất cứ ai.

Ảnh hưởng của phong thuỷ ngoại viên:

Có nhiều cách phân tích khác nhau có thể quyết đoán một cách chính xác những ảnh hưởng của ngoại viên đối với những thành viên trong gia đình, trong thời điểm nào và như thế nào theo trường phái Huyền Không Phi TinhHuyền Không Đại Quái. Đây là những qui luật căn bản tổng quát theo phong thuỷ hình thế thường áp dụng:
  • Vườn đàng trước nhà nên mở rộng và tự do trong khi vườn đàng sau nên có tính cách cá nhân và riêng tư (kín đáo) nhằm tránh tán khí. 
  • Những vật thể vườn trước nhà thường ảnh hưởng tương lai, cũng có thể là tài lộc. 
  • Những vật thể vườn sau nhà thường ảnh hưởng sức mạnh, phần lớn là sức khỏe, con người. 
  • Những vật thể bên trái của nhà ảnh hưởng nam chủ nhân hay nam giới trong nhà (trong nhìn ra ngoài). 
  • Những vật thể bên phải của nhà ảnh hưởng nữ chủ nhân hay nữ giới trong nhà (trong nhìn ra ngoài). 

Thu trong phong thuỷ

Nhiều sách và rất nhiều trang mạng về Phong thủy thích dùng nước ở ngoại viên, trước cửa nhà. Có vài thân chủ đặt vòi nước phun ở vườn trước nhà chỉ vì theo sách, tài liệu, hướng dẫn không chính thống, vỉ không cần biết là hướng nào và hậu quả rất nghiêm trọng, gia đình ly tán, hao tài vô cớ, sức khoẻ ngày càng kém. 

Thủy pháp ở ngoại viên rất quan trọng, ảnh hưởng tài lộc của chúng ta, đồng thời cũng ảnh hưởng sức khoẻ của chúng ta, đặt để nước trong nhà cũng ảnh hưởng nhưng không mạnh mẽ bằng. Vị trí đặt để và hướng nước chảy ảnh hưởng rất quan trọng cho một ngôi nhà – bởi vậy tìm một vị trí tốt để áp dụng thủy pháp ở ngoại viên rất là phức tạp. Trong phong thủy, thác nước, vòi nước phun, hồ cá hay thác thiên nhiên rất tốt và có thể tạo dựng dễ dàng nhưng hình dáng và kích thước của hồ rất quan trọng: 
  • Theo phong thủy để được may mắn, hình dáng của hồ phải bao bọc ngôi nhà. 
  • Hình hột xoài, hình tròn, bán nguyệt, bầu dục luôn luôn tốt, tránh những hình có góc nhọn đâm vào nhà. 
  • Hướng nước phải chảy vào trong nhà, nếu chảy ra ngoài hay chảy thẳng trực tiếp vào nhà thì không tốt. 
  • Tiếng nước chảy êm ái theo dòng và thánh thót thì tốt hơn là chảy xiết, ồn ào. 
  • Luôn luôn giữ gìn hồ nước cho sạch sẽ. 
  • Kích thước của hồ còn tùy thuộc vào kích thước của ngôi nhà như nhà nhỏ mà xây hồ to thì không tốt. 
Tuy nhiên nếu bạn chỉ muốn có nước trong vườn cho đẹp, nên tìm chỗ và thử xem vị trí muốn thiết kế không đem lại vấn đề gì cho bạn bằng cách để vòi nước phun liên tục nơi đó trong vòng một tuần và xem tình trạng tài lộc và sức khỏe ảnh hưởng ra sao thì biết. 

Nếu bạn muốn tạo một triều lưu thịnh vượng trong vườn của bạn thì cần sự cố vấn hơn là cầu may, nếu là vị trí trước hay sau vườn của bạn. Nước là một dụng cụ rất mạnh mẽ trong phong thủy nên bạn cần người chuyên nghiệp cố vấn hay bạn đã được đào tạo trước khi đặt để hay dời đổi triều lưu trong vườn. 

Không có sự huyền diệu nào cả về ranh giới ảnh hưởng của ngoại viên như có người nói bên trong vườn mới ảnh hưởng chủ nhân còn bên ngoài vườn thì không ảnh hưởng. Nên nhớ những gì trong vườn nhà láng giềng, nhất là hồ nước chắc chắn sẽ ảnh hưởng phong thủy nhà bạn và vườn nhà bạn cũng ảnh hưởng người láng giềng. 
  • Nên dọn những lá chết, chậu hoa vỡ hay cỏ dại, vứt bỏ những đồ dùng cũ không xài, thường xuyên dọn dẹp, hút bụi bẩn trong nhà. 
  • Luôn chú ý đến vệ sinh, thông thoáng, và ánh sáng của căn nhà, đó là điều cần thiết nhất mọi thời điểm. 
Hãy làm cho khu vườn và căn nhà của bạn trở nên hoàn mỹ để tránh bị căng thẳng thần kinh. Không chỉ dựa vào nghệ thuật trang trí để mang lại thẩm mỹ cho ngôi vườn xinh xắn của bạn mà khoa phong thủy còn làm cho sinh khí luân chuyển một cách hài hòa, cân bằng môi trường xung quanh, giảm thiểu những khó khăn khúc mắc, tăng trưởng sự may mắn, thịnh vượng nếu bạn biết sử dụng đúng cách.

Phong thuỷ sư huyền không

Bát tự luận mệnh: Mậu thổ hậu trọng, thủy nhuận vật sinh

[Phong thuỷ khai vận] Đại diện cho thiên can “MẬU” là “Thổ” và “Cấn”. Người có thiên can “MẬU” thiên về “Cấn” (thổ) là đúng cách. “Thổ” là đất (cứng), đá ong, đất đồi gần núi, cao nguyên và trung du, là tích tụ quặng kim loại. 

Tính chất của người Thiên Can "MẬU"

Người có thiên can “MẬU” thường khổ trước sướng sau, hay lúc đầu phải lăn lộn, đi học thậm chí phải lên miền núi cao, vất vả.

Người nam có thiên can “MẬU” tính cách mạnh mẽ, quyết đoán, suy nghĩ lúc đầu thường nông cạn và hay lầm lẫn, sai đường lối. Tính cách trưởng giả, không chịu nghe lời góp ý của người trong gia đình. Nếu là người con Út tùy theo phúc phận của gia đình thường hay lo việc mồ mả của tổ tiên. Vì là “Cấn” thì dù có đi đâu xa cũng hay về nhà, lo cúng giỗ tổ tiên cẩn thận. Trong việc làm cái gì cũng tích tụ, bệnh cũng tích tụ; trên 30 tuổi thường có khối u trong cơ thể, chính vì thế nên thường xuyên kiểm tra sức khỏe định kỳ. Thường có bệnh nơi miệng, tỳ, vị, dạ dày, lá lách. Nếu thiên về “KHẢM” (thủy) sẽ dễ bị bệnh về Thận. Tuy lúc trẻ có vất vả nhưng nếu có phúc đức tổ tiên và nạp được “Thủy” thì trên 40 tuổi sẽ giầu có. Nếu thiên về công việc khai thác mỏ (khai khoáng), công việc ở nơi có nhiều núi, dịch vụ cầu đường, buôn bán đất cát sẽ nhanh giầu. 

Người tuổi “MẬU TUẤT” là kho giữ được tiền, là trung tâm nếu kết hợp được với địa chi “Thủy” và “Hỏa” thì dễ làm Thầy “Tâm linh”. 

Người tuổi “MẬU TÝ”-“MẬU NGỌ” tính hiền lành, tốt bụng, có thể làm bác sĩ, thầy thuốc. Nếu là nữ mang thiên can “MẬU” thường vất vã, tính khô khan nên thường chơ vơ, đơn độc một mình. Nhưng nếu biết lắng nghe góp ý của người khác thì sẽ tốt lành, không bị rối trí trong xử lý công việc cũng như trong đường tình duyên. Nữ tuổi “MẬU TÝ” phải cẩn thận “Hồng nhan, bạc phận”, tuổi này dễ làm thầy “Bói” hoặc “Hầu Đồng”. Nếu nhà có “Điện thờ”cần phải chỉnh chu sớm tối và phải có người nối dõi nếu không sẽ bị mệt mỏi và kiệt sức. Nếu làm thầy”Bói” phải có “Thiên cơ” chiếu mệnh thì đắc quả, nếu không có thì cần phải học hỏi, biết lắng nghe và đúc kết thì mới có thể làm “Thầy” được. 

Người có thiên can “MẬU” thường xuyên bị mất tiền, không giữ được của nếu trong cuộc đời luôn thay đổi công việc. 

Mậu thổ hậu trọng, thủy nhuận vật sinh

Mậu Thổ thuộc tính dương, trong Bát tự nếu có chữ Mậu, cho thấy người này có thể đạt được thành công, nhưng đó là kiểu thành công gì? Thiên can tính dương tượng trưng cho thành công đạt được mang tính quần chúng, mang tính quốc gia, không phải là có lợi cho tập thể nhỏ. 

Mậu Thổ giống như đất khô cằn hoặc đá, có thể dùng để chống lũ. Chữ Nhâm trong thiên can giống như nước lũ, Mậu là đất khô khắc chế loại nước lũ này. Trong Bát tự, Nhâm và Mậu là một mối quan hệ kỳ diệu. Giả dụ trong Bát tự có Nhâm, nên đồng thời xuất hiện cả Mậu Thổ; nếu có Mậu Thổ, nên đồng thời xuất hiện cả Nhâm Thủy. Nhưng nếu như bạn có đất khô để chống nước lũ, nhưng cả đời lại không gặp lũ lụt, bạn sẽ phát huy tác dụng thế nào, gây dựng sự nghiệp ra sao? Tác dụng của bạn chính là làm một con đê chặn dòng nước lũ vào lúc nước sông tràn bờ, từ đó trở nên nổi tiếng và thành công. Giả dụ chưa bao giờ bị nước lũ xâm phạm, thì bạn cả đời cũng chỉ là một nấm đất khô mà thôi. Vì vậy, đối với người Mậu Thổ, nếu như trong Bát tự không có Nhâm Thủy, đại vận trong một đời cũng không có Nhâm Thủy, Mậu Thổ sẽ không có đất dụng võ. 

Tuy nhiên, trời cao có đức, cho dù trong đại vận không có Nhâm Thủy, nhưng lưu niên cứ mười năm lại sẽ có một lần gặp Nhâm, tức cứ mười năm nước sông lại thành lũ vỡ đê, khiến Mậu Thổ có cơ hội phát huy tác dụng. Đặc điểm của người Mậu Thổ là: mỗi khi xảy ra biến cố, nếu được họ ra tay giúp đỡ, cơ hội thành công sẽ rất cao. Khi hành tới vận Nhâm Thủy, anh ta sẽ trở thành "anh hùng chống lũ”, bước lên vị trí lãnh đạo. 

Cổ nhân nói: "Mậu Thổ hậu trọng, ký trung thả chính, Thủy nhuận vật sinh, Hỏa táo vật bệnh" (Mậu Thổ dày nặng, đã trung lại chính; Thủy tưới vật sinh, Hỏa nóng vật bệnh). Bát tự của người Mậu Thổ cần phải có Thủy Hỏa điều hòa, như vậy mới có thể có được vận tốt. Do người Mậu Thổ phải thường xuyên đối diện với cuộc chiến giữa Thủy và Hỏa, nên tình cảm thay đổi rất mạnh, dễ mắc các bệnh về đường hô hấp. Mậu Thổ và Tuất Thổ đều là đất khô, có thể cộng tác với nhau. Mậu Thổ gặp Quý Thủy sẽ hợp hóa thành Hỏa, Thổ và Thủy đều biến mất, trong Bát tự gọi là "vô tình chi hợp" (cái hợp vô tình), kiểu hợp này dễ xảy ra vấn đề, nên cẩn trọng xử lý. 

Nếu bên cạnh người Mậu Thổ có một đối tác trợ giúp, có thể cân bằng tính đa cảm, ủy mị, do dự của người Mậu Thổ.

Phong thuỷ: Có ngày tốt hay xấu không?

[Phong thuỷ khai vận] Khi viết về phong thuỷ mà cố tình lảng tránh vấn đề này, ắt không thoả mãn yêu cầu của số đông bạn đọc, vì lễ cưới, lễ tang, xây nhà dựng cửa, khai trương, xuất hành... còn nhiều người, nhiều nơi chú trọng ngày lành. Đó là một thực tế. Ngặt vì có một số người bài bác hẳn, cho là gieo rắc mê tín dị đoan; một số khác lại quá mê tín, nhất là việc lớn việc nhỏ, việc gì cũng chọn ngày, từ việc mua con lợn, làm cái chuồng gà, cắt tóc cho con, đi khám bệnh... mọi điều may rủi đều đổ lỗi cho việc không chọn ngày, chọn giờ. 

Một số đông khác tuy bản thân không tin phong thuỷ nhưng chiều ý số đông, làm ngơ để cho vợ con đi tìm thầy lễ, thầy cúng định ngày giờ xét thấy không ảnh hưởng gì nhiều, hơn nữa, để tránh tình trạng sau này lỡ xẩy ra sự gì không lành lại đổ lỗi cho mình "Bát". Thế tất một năm, năm mười năm, đối với một người đã đành, đối với cả nhà, cả chi họ làm sao hoàn toàn không gặp sự rủi ro!. ngày tốt, ngày xấu về khí hậu thời tiết thì dự báo của cơ quan khí tượng là đáng tin cậy nhất.

Khoa học đã dự báo được hàng trăm năm những hiện tượng thiên nhiên như nhật thực, nguyệt thực, sao chổi, sao băng... chính xác đến từng giờ phút. Nhưng tác động của tự nhiên sẽ tạo nên hậu quả xấu đối với từng người, từng việc, từng vùng ra sao, đó còn là điều bí ẩn. Thời xưa, các bậc trí giả tranh cãi nhiều vẫn chưa ngã ngũ nên ai tin cứ tin, ai không tin thì tuỳ "Linh tại ngã, bất linh tại ngã" (cho rằng thiêng cũng đã tự mình ra, cho rằng không thiêng, cũng tự mình ra), "Vô sư vô sách, quỉ thần bất trách" (không biết vì không có thầy, không có sách, quỷ thần cũng không trách). 

Thực tế, có ngày mọi việc mọi điều đều thành công, nhiều điều may mắn tự nhiên đưa tới; có ngày vất vả sớm chiều mà chẳng được việc gì, còn gặp tai nạn bất ngờ. Phép duy vật biện chứng giải thích đó là qui luật tất nhiên và ngẫu nhiên. Trong tất nhiên có yếu tố ngẫu nhiên, trong ngẫu nhiên cũng có yêú tố tất nhiên. 

Lý luận thì như vậy nhưng có bạn đọc cũng muốn biết cụ thể trong tháng này, ngày nào tốt, ngày nào xấu, ngày nào tốt cho việc làm nhà, cưới vợ, tang lễ phải tránh giờ nào...Đa số bà con ta vẫn nghĩ "có thờ có thiêng, có kiêng có lành", nhất là khi điều khiêng đó không ảnh hưởng gì mâý tới công việc cũng như kinh tế... 

Thời xưa, mặc dù có người tin, có người không tin, toà Khâm thiên giám ban hành "Hiệp kỷ lịch", mà số người biết chữ Hán khá nhiều nên phần đông các gia đình cứ dựa vào đó mà tự chọn ngày giờ. Thời nay, rải rác ở các làng xã, còn sót lại một vài người còn biết chữ Hán nhưng sách vở cũ hầu như không còn, các gia đình muốn xem ngày giờ để định liệu những công việc lớn đành mất công tốn của tìm thầy. Khốn nỗi, mỗi thầy phán một cách, chẳng biết tin ai. 

Đã có trường hợp, bốn ông bà thông gia vì việc chọn ngày tốt xấu, tuổi hợp tuổi xung, tranh cãi nhau phải chia tay để lại mối hận tình. Gần đây trên thị trường xuất hiện cuốn sách viết về cách xem ngày tính giờ. Cũng có tác giả có kiến thức, có tư liệu, viết rất thận trọng, nhưng ngược lại có người viết rất cẩu thả, dựa theo thị hiếu thương trường, vô căn cứ với động cơ kiếm tiền bất chính. Có cuốn sách tốt xấu, thực hư lẫn lộn, không có tên nhà xuất bản, không có tên tác giả, không ghi xuất xứ của tư liệu...Cùng một ngày, cuốn này, ghi nên xuất hành, cưới hỏi, cuốn khác ghi kỵ xuất hành, cưới hỏi, làm người xem rất hoang mang. "Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay", biết tin vào đâu? Biết tìm ai mà hỏi? 

Có những bạn đọc hỏi: Chúng ta đã từng phê phán và sẽ tiếp tục phê phán phong thuỷ, mọi loại thầy bói, mê tín dị đoan, bịp bợm. Nhưng gần đây lại thấy nhiều người bảo: Khoa học có thể tính toán để biết trước ngày tốt, ngày xấu, thực hư ra sao? 

Những người hành nghề mê tín, biết nắm tâm lý "Bắt mạch" đối tượng (qua nét mặt, lời nói, chi tiết trình bày và những câu thăm dò...). Nhưng bài viết này không nói về họ mà chỉ điểm qua những điều khoa học dự tính để biết trước ngày lành, tháng tốt... của mỗi người. 

Nhịp sinh học - đặc điểm của sự sống: Nghiên cứu mọi cơ thể sống đều thấy hoạt động của chúng không phải lúc nào cũng giống lúc nào mà có khi mạnh khi yếu, khi nhanh khi chậm... Những thay đổi đó nhiều khi xảy ra rất đều đặn và liên tiếp thành chu kỳ, còn gọi là nhịp sinh học: Có nhịp ngày đêm, nhịp tháng (liên quan đến âm lịch) nhịp mùa xuân, hạ, thu, đông... Các nhịp sinh học có tính di truyền. Phát hiện ra các nhịp sinh học người ta nhận thấy các quá trình sinh lý trong cơ thể có thể biến đổi theo thời gian. Sự biến cố đó có tính chất chu kỳ và tuần hoàn (lặp đi lặp lại khá đều đặn). 

Nghiên cứu về sự chết và tỷ lệ chết của con người, thấy có nhiều biến đổi tuỳ thuộc vào nguyên nhân gây chết. Thí dụ: Vào khoảng 3-4 giờ sáng áp suất máu thấp nhất, não được cung cấp lượng máu ít nhất nên người bệnh hay bị chết nhất. Các cơn động kinh thường có giờ. Bệnh nhân hen cũng thường lên cơn hen về đêm vào khoảng 2-4 giờ sáng (trùng với thời gian bài tiết cóc- ti-cô-ít ra nước tiểu xuống tới mức thấp nhất). Cơn hen về đêm nặng hơn cơn hen ban ngày. Những biến đổi có tính chất chu kỳ hàng năm thì có nguy cơ chết về đau tim cao nhất là vào tháng giêng đối với một số nước ở bán cầu phía Bắc. Cao điểm hàng năm của các vụ tự tử ở bang Min-ne-so-ta cũng như ở Pháp là vào tháng 6. Hai nhà khoa học An-đơ-lô-ơ và Mét đã phân tích 3620 trường hợp tai nạn lao động và thấy làm ca đêm ít tai nạn hơn làm ca sáng và chiều. 

Ngày vận hạn của mỗi người: Trên cơ sở tính toán ảnh hưởng của các yếu tố vũ trụ lên trái đất và bằng phương pháp tâm sinh lý học thực nghiệm, người ta đã rút ra kết luận là từ khi ra đời, cuộc sống của mỗi người diễn ra phù hợp với ba chu kỳ riêng biệt: 
  • Chu kỳ thể lực: 23 ngày, 
  • Chu kỳ tình cảm 28 ngày, 
  • Chu kỳ chí tuệ 33 ngày. 
Mỗi chu kỳ gồm hai bán chu kỳ dương và âm. Bán chu kỳ dương (1/2 số ngày của đầu chu kỳ) được đặc trưng bằng sự tăng cường khả năng lao động. Còn bán chu kỳ âm (1/2 số ngày cuối chu kỳ) thì các hiện tượng đều ngược lại. Cả ba chu kỳ trên đều chuyển tiếp từ bán chu kỳ dương sang bán chu kỳ âm. Ngày trùng với điểm chuyển tiếp này là ngày xấu nhất của mỗi chu kỳ. 

Thực tế đã chứng minh: Đối với chu kỳ tình cảm, vô cớ. Đối với chu kỳ trí tuệ, đó là ngày đãng trí, khả năng tư duy kém. Đặc biệt đối với chu kỳ thể lực, đó là ngày thường xảy ra tai nạn lao động. Đối với hai chu kỳ, số ngày chuyển tiếp trùng nhau chỉ xảy ra một lần trong một năm. Ngày trùng hợp đó của ba chu kỳ là ngày xấu nhất, có thể coi là ngày "Vận hạn" của mỗi người. Nếu biết ngày, tháng, năm sinh của mỗi người, nhờ máy tính điện tử có thể dễ dàng xác định được các chu kỳ, điểm chuyển tiếp và sự trùng hợp điểm chuyển tiếp giữa các chu kỳ.

Công ty giao thông của Nhật Bản Omi Reilvei đã áp dụng thành tựu vào bảo vệ an toàn giao thông. Họ đã xác định các chu kỳ, các điểm chuyển tiếp giữa các chu kỳ của từng người lái và báo cho lái xe biết trước những "ngày xấu" để họ phòng tránh. Nhờ đó số tai nạn giao thông ở Nhật Bản đã giảm đi rất nhiều, đặc biệt vào đầu năm áp dụng (969-1970) số tai nạn giao thông đã giảm hẳn 50%. 

Theo Cup-ria-nô-vích (Liên Xô cũ) thì giả thuyết về nhịp tháng của các quá trình sinh học xác định ba trạng thái của cơ thể, không chỉ áp dụng ở Nhật Bản mà còn được áp dụng ở nhiều nước Tây Âu vào công tác an toàn, giao thông nói riêng, an toàn lao động nói chung.

Các vấn đề trên đây không phải là "thầy bói nói mò" mà dựa vào một dữ kiện thực tế nhất định. Nó cũng phù hợp với nhận thức về mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố địa vật lý vũ trụ với các quá trình hoạt động chức năng của cơ thể. 

theo tài liệu - Bác sĩ Vũ Định- Trích báo "Hà nội mới chủ nhật" số 73
--------
Để tránh việc mua lầm, hoặc các bạn còn hoan mang nhưng muốn tìm hiểu tài liệu, sách xem ngày tháng, các bạn có thể tham khảo một tư liệu lịch sử & khoa học "Xem ngày kén giờ" của học giả Phan kế Bính đăng trong cuốn "Việt Nam phong tục" xuất bản năm 1915, tái bản năm 1990.

Nhưng trước khi xem nên nhắc lại các bạn: "Khi gia đình có việc hệ trọng, cần nhiều người tham dự thì càng thận trọng càng hay, nhưng chớ quá câu nệ nhiều khi nhỡ việc". Mỗi người một thuyết, mỗi thầy một sách, rất rối rắm, có khi cả tháng không chọn được ngày tốt. Xem như trong cuốn "Ngọc hạp kỷ yếu" không có một ngày nào hoàn toàn tốt, hoặc hoàn toàn xấu đối với mọi người, mọi việc, mọi địa phương. 

Vua Trần Minh Tông với việc chọn ngày làm lễ an táng mẹ. Năm 1332 Thuận thánh Bảo từ Hoàng Thái Hậu mất. Con là Thượng Hoàng Minh Tông lúc đó đã nhường ngôi cho con là Hiến Tông. Thượng hoàng sai các quan chọn ngày chôn cất. Có người tâu rằng: "Chôn năm nay tất hại người tế chủ". Thượng hoàng hỏi : "Người biết sang năm ta nhất định chết à?". Người ấy trả lời không biết. Thượng hoàng lại hỏi: "Nếu sang năm trở đi ta chắc chắn không chết thì hoản việc chôn mẫu hậu cũng được, nếu sang năm ta chết thì lo xong việc chôn cất mẫu hậu chẳng hơn là chết mà chưa lo được việc đó ư? Lễ cát, lễ hung phải chọn ngày là vì coi trọng việc đó thội, chứ đâu phải câu nệ hoạ phúc như các nhà âm dương". Rốt cuộc vẫn cử hành lễ an táng.

Phong thuỷ và Vận Mệnh - Pháp sư Tịnh Không

[Phong thuỷ thực nghiệm] Trong quá trình thực hành phong thuỷ chúng tôi chiêm nghiệm được rất nhiều vấn đề trong đời sống thực tế, sự chứng nghiệm về Phong thuỷ và Vận Mệnh có một sự tương thông rất rõ rệt, ví như: "Nếu như phong thủy xấu, mà mệnh tốt, vận mệnh tốt hoặc có đức tốt sẽ vượt qua" và/hoặc "Khi vận mệnh suy, thì đa phần chúng ta ở vào những khu vực có phong thuỷ suy" và còn rất nhiều đều huyền diệu mà chúng tôi mong được khám phá. Và chúng tôi ngộ ra được các câu nói được truyền miệng trong dân gian: "Đức năng thắng số"; "Ăn ở có Đức, mặc sức mà ăn",..v.v... Lấy Đức làm gốc, ta sẽ bình an.

Mặc dù chúng tôi biết rất rõ phong thủy không phải mê tín, mà là khoa học liên hệ giữa môi trường sống và con người, nhưng chúng tôi không chủ trương, và cổ vũ cho Mê tín dị đoan. Nhưng có một sự huyền diệu  trong phong thuỷ rất đáng được nghiên cứu, chiêm nghiệm mà khoa học chưa chứng minh được.

Khi chúng tôi trao đổi với những bậc chân tu, bậc tiền nhân ngoại cảm, huyền di, vô vi về những nghiệm chứng phong thuỷ của chúng tôi, đều có những kết quả tương đồng. Và khi chúng tôi có nhân duyên xem được bài giảng của Pháp sư Tịnh Không và đồng cảm ngay với bài giảng này, thật thú vị. Vì thế chúng tôi đăng lại tại trang nhà giới thiệu đến các bạn đọc giả.

Phật giáo là giáo dục "Không phải là tôn giáo cũng không phải là triết học".


Phong thuỷ nhà ở: Hướng Tây tốt hay xấu?

[Phong thuỷ khai vận] Trong loạt bài về phong thuỷ nhà ở, sau hai bài trước đã giới thiệu về: "Phong Thuỷ Nhà ở: hướng Đông tốt hay xấu?" và "Phong Thuỷ Nhà ở: hướng Nam tốt hay xấu?" .Hôm nay, phong thuỷ thực nghiệm sẽ giới thiệu đến các bạn về nhà hướng Tây (tức toạ Đông hướng Tây) và cũng mang hàm nghĩa chỉ hướng (phương) Tây trong nhà nếu nhà các bạn không phải toạ Đông hướng Tây. Đồng thời chúng tôi cũng trả lời cho một bạn đọc Nguyễn Văn Tuyên đã gởi e.mail cho chúng tôi cần tư vấn về mảnh đất dự định mua toạ Đông hướng Tây.

Biểu trưng phong thu:  Hướng Tây (Quái Đoài: miệng, lưỡi, phổi, xương; nhân vật: thứ nữ). Mặt trời lặn ở hướng Tây, là nơi mặt trời dần đi vào đường chân trời, kết thúc một ngày. Đó cũng là lúc trở về nhà, cả nhà đoàn tụ.  Hướng Tây có xu hướng ổn định, bảo thủ, chậm chạp, giữ vững cái đã có. Đối với sự việc mới khó tiếp thu, khó đổi mới, không xác định mục đích, thiếu chủ ý, những điều trên đều là ảnh hưởng tiềm tàng của hướng Tây.


Biểu hiện của ngôi nhà có hướng Tây phong thu vượng (tốt): Kinh tế sung túc ổn định; Giỏi kinh doanh; Có tài ăn nói, giỏi giao tiếp; Cuộc sống gia đình hoà thuận, ổn định; Thích sống nhàn; Bạn gái tràn đầy sức thu hút. 

Biểu hiện của ngôi nhà có hướng Tây phong thu suy (xấu): Biếng nhác, chậm chạp, ham cuộc sống sung sướng mà đi vào con đường tà đạo; Khổ vì tiền của; Thường xuyên thay đổi việc làm, cuộc sống không ổn định; Dễ mắc bệnh về vòm họng, miệng, lưỡi, thắt lưng; Luôn có xích mích trong gia đình dù là việc nhỏ. 

Về công việc - sự nghiệp

Nếu có hướng Tây phong thuỷ vượng: thì có thể tích luỹ của cải. Người sống ở đây có đầu ốc kinh doanh tốt, nhạy bén, những dự đoán đầu tư đều khá chính xác, công việc kinh doanh phát triển thuận lợi. Do giỏi kinh doanh và có tài ăn nói, vì vậy, người giao thiệp rộng rãi, tin tức nhanh nhạy, thì sẽ thu lợi càng lớn hơn. Trong công việc cũng nhờ giỏi ăn nói, giỏi giao tiếp nên được cấp trên trọng dụng, có nhiều cơ hợi thăng tiến. 

Nếu có hướng Tây phong thuỷ suy: thì sẽ gặp khó khăn về kinh tế, thậm chí bị mất của, nhưng sẽ không ảnh hưởng ngay tức khắc mà như có thể vì làm ăn thất bại, rồi vay mượn, nợ tiền,v.v…cứ thế nối tiếp nhau đến, thậm chí có thể vì vậy mà dẫn đến kiện tụng, lao tù nhà tan cửa nát. 

Về sức khoẻ

Nếu hướng Tây phong thuỷ vượng: sẽ giúp ích rất lớn về phổi, tinh lực dồi dào, thể lực sung mãn. Vì cuộc sống thường có tâm trạng cởi mở nên khoẻ tốt, bất luận là làm việc hay vui chơi giải trí, họ đều có thể hưởng trọn niềm vui. 

Nếu hướng Tây phong thuỷ suy: phổi sẽ không khoẻ mạnh, về phương diện tinh thần hay thể lực đều có hiện tượng mệt mỏi, không sao đảm đương công việc tới cùng. Do thể lực không đủ nên dễ mắc các bệnh về khí quản, không thể tập trung tinh thần vào công việc, thường xảy ra tình trạng làm nhiều mà hiệu quả ít. 

Cần cẩn thận bệnh khoang miệng, do răng không tốt nên khí nhai kỹ dẫn đến các bệnh đường tiêu hoá, cơ thể cảm thấy uể oải, thiếu tinh thần. 

Về gia đạo

Nếu hướng tây phong thuỷ vượng: thì đối với bạn gái chưa kết hôn thường có kết quả tốt. Họ có cá tính, năng lực và sức quyến rũ cũng là nhân tố quan trọng để đối tượng mến phục. Nếu là bạn trai chưa kết hôn, ngoại trừ tài vận tốt, họ còn cưới đựơc người vợ hiền, giỏi quản lý tiền bạc.

Mọi người trong nhà đều giỏi quản lý tiền bạc, không phung phí, chi tiêu điều đúng giá trị lớn nhất của nó; cuộc sống mặc dù giản dị tiết kiệm nhưng không phải keo kiệt. Không khí vui vẻ luôn có trong nhà, đối với việc ăn uống rất sành và có nghiên cứu, tính toán, nhờ vậy cuộc sống gia đình tương đối hạnh phúc.

Kéo theo tiềm năng cuộc sống gia đình ổn định, người sống ở đây sẽ rất hoà thuận, cá tính cởi mở, không để bụng chuyện nhỏ nhặt.

Nếu hướng Tây phong thuỷ suy: đối với nam nữ chưa kết hôn đều ảnh hưởng khá lớn, họ là những người thích làm theo ý mình, không chịu nghe lời khuyên bảo cuả người lớn, thích chìm đắm trong sắc dục mà đánh mất bản thân, cuộc sống phóng túng. Cho dù đã thành gia lập thất, cuộc sống hôn nhân cũng sẽ không hạnh phúc, chỉ tạo ra thêm những vấn đề rắc rối trong gia đình mà thôi. Cuối cùng, kết cuộc thường chỉ là ly hôn. 

Các thành viên sẽ có hành vi chi tiêu phung phí. Do thiếu thông cảm trong gia đình mà thường xuyên la cà ở các nơi giải trí, người nhà khó mà sum vầy trong bữa ăn gia đình thiếu cơ hợi để liên kết tình cảm, kết quả sẽ khiến cho người trong nhà không muốn về nhà.

Kinh nghiệm phong thu: sự vượng, suy phong thuỷ của hướng Tây, phương vị Tây (cung Đoài) của nhà hoặc văn phòng phụ thuộc vào cách cục và cách bố cục bên ngoài lẫn bên trong của nơi xem xét, đồng thời với thời vận (thời gian - không gian). Sự thịnh suy phong thuỷ này không phụ thuộc vào bạn là mệnh Đông tứ hay mệnh Tây tứ, hợp mệnh hay không hợp mệnh.

Sau khi đọc bài này, bạn nên quan sát và kiểm nghiệm cho chính mình, người thân. Hy vọng thoả mãn được mong muốn của các bạn. Chúc các bạn thành công.

Gia Cát Lượng: Những lời “sấm truyền”

[Phong thuỷ khai vận] Với người Trung Quốc, quân sư Khổng Minh là một nhà tiên tri vĩ đại. Tài tiên đoán, liệu sự như thần của ông khiến hậu thế phải nghiêng mình thán phục.

Trí tuệ tinh thông, tài năng lỗi lạc lẫn lòng trung hiếu sắt son của Khổng Minh luôn được hậu thế tôn vinh, trân trọng. Sử sách ghi nhận ông là một nhà chính trị, quân sự, chiến lược, ngoại giao tài ba, kiệt xuất thời Tam quốc. 

Theo Bách kho toàn thư mở, Gia Cát Lượng (181 - 234), tự là Khổng Minh, hiệu Ngọa Long tiên sinh. Ông là quân sư xuất chúng của Lưu Bị nước Thục, thời hậu Hán. Gia Cát Lượng quê tại Dương Đô (nay thuộc huyện Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông). Không chỉ kiệt xuất trong lĩnh vực quân sự, chính trị, Khổng Minh còn là một học giả và nhà phát minh kỹ thuật đại tài. Ông đã sáng tạo ra các chiến thuật quân sự nổi tiếng như: Bát trận đồ (Hình vẽ tám trận), Liên nỏ (Nỏ Liên Châu, tên bắn ra liên tục), Mộc ngưu lưu mã (trâu gỗ ngựa máy). Tương truyền, chính vị quân sư này là nhà phát minh ra đèn trời (Khổng Minh đăng - một dạng khinh khí cầu cỡ nhỏ) và món màn thầu nổi tiếng của Trung Quốc.

Cho tới nay, những lời tiên tri của Gia Cát Lượng trong "Mã Tiền Khóa" vẫn là một bí ẩn thú vị với hậu thế.

Liệu sự như thần 

Tài năng của Khổng Minh đâu chỉ dừng ở những lĩnh vực ấy. Với người Trung Quốc, Gia Cát Lượng còn là nhà tiên tri vô cùng vĩ đại. Ông được mệnh danh là người “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”, có tài tiên đoán mọi việc cực chuẩn xác.

Nói về kỳ tài "liệu sự như thần" của Khổng Minh, dân gian Trung Quốc hãy còn lưu truyền một câu chuyện khá thú vị.


Tương truyền, trước lúc lâm chung, Gia Cát Lượng dặn dò con cháu: “Sau khi ta chết, trong số các con sẽ gặp phải đại họa chết người. Tới lúc ấy, hãy dỡ nhà, lấy từ trong tường ra một bọc giấy, trong đó có cách cứu mạng”. Sau khi ông qua đời, Tư Mã Viêm lên ngôi hoàng đế. Nghe tin trong số quan quân triều đình có viên tướng quân là hậu thế của Gia Cát Lượng, Viêm bèn nghĩ cách trừng trị người này. 

Một hôm, Tư Mã Viêm tìm cớ định tội chết cho viên tướng nhà Gia Cát. Trên Kim điện, Viêm cất lời hỏi: “Trước khi chết, tổ phụ nhà ngươi đã nói những gì?”. Kẻ “tội đồ” bèn thật thà truyền đạt tới vua lời dặn dò của Gia Cát Lượng. Nghe thấy vậy, Tư Mã Viêm bèn ra lệnh cho quân lính dỡ nhà, lấy bọc giấy ra xem. Bên trong chỉ có một phong thư kín, phía trên viết rằng: “Ngộ hoàng nhi khai” (nghĩa là đúng hoàng thượng mới mở ra xem). Đám binh sĩ bèn dâng thư lên vua. Trong thư có mấy chữ: “Xin lùi ba bước”. Tư Mã Viêm lập tức làm theo. Vừa đứng vững đã nghe thấy một tiếng “rầm”, chiếc xà rơi thẳng xuống chỗ vua ngồi, khiến bàn ghế tan tành. Viêm trông thấy vậy mà sợ hãi lạnh người, rồi lại xem tiếp những dòng ở cuối thư: “Ta cứu mạng ngươi, ngươi hãy giữ lại mạng sống của con cháu ta”. Xem xong thư, Tư Mã Viêm thầm thán phục tài tiên đoán như thần của Gia Cát Khổng Minh rồi ra lệnh phục nguyên chức cho vị tướng quân này. 

Còn theo Bách Khoa toàn thư mở, Khổng Minh bỗng lâm bệnh nặng khi ra Kỳ Sơn lần thứ 6. Biết mệnh sắp tàn, ông cho gọi tướng tài Khương Duy vào truyền thụ 24 thiên binh thư của mình. Gia Cát Lượng còn cẩn thận dặn dò các tướng quân phải nêu cao cảnh giác, đề phòng mối nguy quân Ngụy tấn công, Ngụy Diên trở mặt làm phản rồi bày cho diệu kế đối phó. 

Quả nhiên, mọi lo lắng, tiên liệu của ông trước khi qua đời đều thành hiện thực. Ngụy Diên tráo trở làm phản, nhưng vì nghe lời căn dặn của quân sư, Mã Đại đã chém chết Diên. 

Lại nói, khi Tư Mã Ý hô quân tới đánh, bên Thục bèn đẩy xe có tượng gỗ của Khổng Minh ra trận, khiến Ý hoang mang lo sợ rồi tháo chạy. Nhờ đó, quân Thục bình an vô sự rút về Thành Đô. 

Thêm lần nữa, tài tiên liệu hơn người của Gia Cát Lượng đã bảo toàn mạng sống cho quân binh và cứu vãn thế sự cho cả vương triều. Để tưởng nhớ công lao to lớn của ông, dân gian lưu truyền câu nói: “Gia Cát chết vẫn đuổi được Trọng Đạt sống”. 

Bí ẩn lời “sấm truyền” trong “Mã Tiền Khóa”

“Mã Tiền Khóa” được cho là một tác phẩm kiệt xuất của Gia Cát Lượng. Tương truyền, nhà quân sư trong lúc nhàn nhã việc quân đã hoàn thành “Mã Tiền Khóa” với những tiên đoán như thần về việc đại sự trong thiên hạ. Nếu giải nghĩa về mặt câu chữ, “Mã Tiền Khóa” ý chỉ việc gieo quẻ bói trước ngựa.


So với những ngự ngôn khác trong lịch sử Trung Quốc, “Mã Tiền Khóa” của Gia Cát Lượng được đánh giá là dễ phá dịch hơn. Tác phẩm này gồm 14 khóa, mỗi khóa có nội dung dự đoán về một triều đại Trung Quốc và các khóa tuân theo tuần tự diễn tiến của lịch sử. 

Theo những chiêm nghiệm của hậu thế, lời tiên đoán trong các khóa của Gia Cát Lượng vô cùng linh ứng và chính xác. Ví như khóa thứ nhất:

Vô lực hồi thiên
Cúc cung tận tụy 
Âm cư dương phất 
Bát thiên nữ quỷ

Nhiều quan điểm cho rằng, khóa này chính là lời dự ngôn về bản thân Gia Cát Lượng và thế sự thời Tam Quốc. Sớm biết vận mệnh nhà Hán đã tới hồi tận, mọi nỗ lực chỉ là “vô lực hồi thiên”, nhưng ông vẫn tận tâm tận sức phò tá Thục Hán, không phụ nghĩa bạc tình với chủ nhân Lưu Bị.

Tổng cộng, Khổng Minh đã 5 lần Bắc phạt Tào Ngụy để khôi phục trung nguyên, tái hưng giang sơn Đại Hán. Trong “Xuất Sư Biểu”, ông cũng bày tỏ nỗ lực tâm huyết tái hưng Hán thất của mình: “Cúc cung tận tụy, tử nhi hậu dĩ” (ý chỉ: Cúc cung tận tụy tới chết mới thôi). Vậy nên, hai câu trước: “Vô lực hồi thiên, Cúc cung tận tụy” là viết cho chính mình. Trong hai câu sau: “Âm cư dương phất, Bát thiên nữ quỷ”, câu “Bát thiên nữ quỷ” được xem như một câu chơi chữ. Chữ “bát” (八) thêm chữ “thiên” (千) rồi thêm chữ “nữ” (女) và chữ “quỷ” (鬼) hợp lại thành chữ “Ngụy” (魏). Điều ấy có nghĩa, nhà Thục Hán cuối cùng sẽ bị Ngụy Quốc tiêu diệt. Còn ở khóa thứ hai:

Hỏa thượng hữu hỏa
Quang chúc trung thổ
Xưng danh bất chính 
Giang Đông hữu hổ

là những dự ngôn của Khổng Minh về Tấn triều. Thực tế lịch sử cho thấy, gia tộc Tư Mã nắm đại quyền trong triều đình nhà Ngụy thời Tam Quốc, trong đó, Tư Mã Chiêu trở thành kẻ thống trị thực quyền. Tới năm 265, Chiêu qua đời, con là Tư Mã Viêm lập tức bắt Hoàng đế cuối cùng của Tào Ngụy là Tào Hoán thoái vị, giao lại triều đình cho mình. Viêm tức vị hoàng đế, lập ra triều Tây Tấn trong lịch sử phong kiến Trung Quốc.

Nếu vận vào khóa thứ hai trong “Mã Tiền Khóa” của Gia Cát Lượng, có thể thấy, nhà quân sư đại tài đã tiên đoán như thần. Câu: “Hỏa thượng hữu hỏa” tức hai chữ “hỏa” (火) thành chữ “Viêm” (炎), ý chỉ Tư Mã Viêm. Tới năm 280, quân Tấn tiến đánh nhà Ngô, bắt sống Tôn Hạo và tiêu diệt nước Ngô, thống nhất thiên hạ. Nên câu thứ hai: “Quang chúc trung thổ” (ý chỉ soi sáng cả vùng trung thổ) là chỉ việc này. Nhưng vì Tư Mã Viêm lên ngôi, lập ra triều Tấn thực chất là cướp đoạt ngôi vị từ Tào Ngụy, nên đúng là “Xưng danh bất chính” như lời chiêm nghiệm trong khóa thứ hai này. 

Tới năm 317, Tư Mã Duệ lên ngôi, đóng đô ở Kiến Khang mà sử sách gọi là Nguyên đế của triều Đông Tấn. Vùng Kiến Khang bấy giờ thuộc Giang Đông. Sự kiện ấy cũng trùng khớp với câu cuối: “Giang Đông hữu hổ”, ý chỉ Giang Đông có hổ và “hổ” ở đây chính là Tư Mã Duệ. 

Các khóa tiếp theo đều linh ứng với những triều đại lịch sử khác nhau của Trung Quốc, như khóa thứ ba là những dự ngôn về giai đoạn Bát Vương chi loạn, Ngũ hồ thập quốc và Nam Bắc Triều; khóa thứ tư tiên đoán về đại sự nhà Đường, khóa thứ năm là lời “sấm truyền” về thời Ngũ Đại, khóa sáu ứng với triều Tống, khóa bảy ứng với triều Nguyên, khóa tám – triều Minh và khóa chín – triều Thanh. Tới khóa 10:

Thỉ hậu ngưu tiền
Thiên nhân nhất khẩu
Ngũ nhị đảo trí
Bằng lai vô cữu

là những dự ngôn của Gia Cát Lượng về sự ra đời của Trung Hoa Dân quốc. Ngày 13/2/1912, hoàng đế nhà Thanh chính thức thoái vị, vương triều Đại Thanh hoàn toàn sụp đổ. Câu: “Thỉ hậu ngưu tiền” (tức: Lợn sau trâu trước) chính là chỉ sự kiện này. Năm 1911 là năm Tân Hợi, tức năm lợn. Còn năm 1913 là năm con trâu. Trong khi đó, sự thống trị của vương triều nhà Thanh kết thúc vào năm 1912, chính là năm ở giữa: “Thỉ hậu ngưu tiền” (Lợn sau trâu trước). 

Riêng câu: “Thiên nhân nhất khẩu” (tức cả nghìn người một miệng) là một câu chơi chữ. Ba chữ “thiên” (千), “nhân” (人), “khẩu” (口) khi hợp lại sẽ thành chữ “hòa” (和) trong từ “Cộng hòa” (共和). 

“Ngũ nhị đảo trí” (tức năm và hai đảo ngược vị trí) ý chỉ chế độ và quốc thể của Trung Hoa Dân Quốc: mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Nguyên thủ quốc gia được gọi là Tổng thống và chức vụ này cũng là do dân bầu. Trước kia có câu: “Cửu ngũ chí tôn”, “ngũ” ở đây ý chỉ ngôi vua. Vì vậy, câu “Ngũ nhị đảo trí” là chỉ chế độ nhà nước do dân làm chủ, dân nắm quyền. 
Theo Minh Hạnh - Kienthuc
-------------
7 cách nhìn người của Gia Cát Lượng

Thuật xem tướng không chỉ xem nhân diện mà còn coi trọng khí phách, tài năng, đạo đức. Nhưng mọi thứ không thể tự nhiên mà có, thông thường phải tu dưỡng, rèn luyện mà thành. Một anh hùng là phải có đủ “tài, đức, trí, dũng, chính, tín”.

“Tri nhân, tri diện, bất tri tâm”, nếu gặp một người, bạn có thể xét diện mạo bên ngoài, dựa vào thuật xem tướng biết được một phần tính cách, cũng không thể nào biết được tâm, đức, tài năng, trí tuệ thật sự của người đó.

Khi còn ở núi Ngọa Long, ông đã viết ra bộ sách “Tướng Uyên” trong đó có đưa ra nhận xét về tính cách con người như sau: “Tính người thật khó hiểu. Dung mạo bất nhất, hành động trăm ngàn lối. Kẻ trông hiền lành nhu thuận mà vô đạo, kẻ bề ngoài cung kính mà trong lòng trí trá vô lễ. Kẻ trông rất hùng dũng nhưng lại nhát sợ. Kẻ có vẻ thật tận lực mà rất bất trung”.

Vì vậy, để giúp các bậc “chính nhân quân tử” hiểu thấu được lòng người, Gia Cát Lượng đã viết riêng một chương có tên là “Tri nhân” (hiểu người) cho bộ sách Tướng Uyên của mình trong đó ông đưa ra 7 cách để hiểu được lòng người khác như sau:
  1. Đem điều phải lẽ trái hỏi họ để biết “chí hướng”.
  2. Lấy lý luận dồn họ vào thế bí để biết “biến thái”.
  3. Lấy mưu trí trị họ để trông thấy “kiến thức”.
  4. Nói cho họ những nỗi khó khăn để xét “đức dũng”.
  5. Cho họ uống rượu say để dò “tâm tính”.
  6. Đưa họ vào lợi lộc để biết tấm lòng “liêm chính”.
  7. Hẹn công việc với họ để đo “chữ tín”.
Nhờ những phép thử rất hữu hiệu này mà Gia Cát Lượng đã giúp cho Thục vương Lưu Bị chọn lựa ra những người có đủ cả tài, đức, trí, dũng, chính, tín; xây dựng nên triều đại nhà Thục hùng mạnh, sánh ngang với hai cường quốc bên cạnh là Ngụy và Ngô.

Với triết lý trong cách hiểu lòng người khác của Gia Cát Lượng vẫn mang đầy tính thực tiễn giúp cho không ít nhà lãnh đạo thành công trong việc hiểu người và dùng người.


Thiên hạ vẫn đồn đại, Gia Cát Lượng tài trí hơn người, tuấn tú khôi ngô nhưng lại yêu và lấy người vợ tên là Hoàng Nguyệt Anh có dung nhan vô cùng xấu xí...

Nên duyên nhờ kiên trì, tài trí và sự đức độ

Ông được hậu thế muôn đời nhắc nhớ với một niềm kính tôn tột bậc không chỉ bởi trí tuệ và tài năng lỗi lạc, mà còn vì lòng trung nghĩa sắt son.

Gia Cát Lượng sinh vào thời loạn nên ngay từ khi còn thiếu thời, ông đã cùng thúc phụ chạy loạn tới Tương Dương, sống cảnh hàn vi, ẩn dật nhưng vẫn chú tâm dùi mài kinh sử, đau đáu một niềm với giang sơn xã tắc.

Là người ham học hỏi, nghe nói ở Ngọa Long Cương có viên ngoại họ Hoàng, trong nhà cất nhiều sách quý, ông bèn dời tới đây, dựng lều tranh ở gần để tìm dịp hội kiến. Thêm vào đó, tin đồn nhà họ Hoàng có cô con gái tên Hoàng Nguyệt Anh, nức tiếng khắp vùng là một tài nữ càng thôi thúc ông đến để có cơ hội gặp gỡ, kết giao với người con gái đó.

Biết được ý định của Gia Cát Lượng, Hoàng viên ngoại ra sức ngăn cản mà không cho biết lý do. Trước tình hình đó, Gia Cát Lượng không hề nản lòng, ông vẫn muốn dùng tài năng và học vấn của mình để thuyết phục Hoàng viên ngoại tác hợp cho mình và cô con gái nên duyên.

Thế nhưng, một điều vô cùng bất ngờ xảy ra đó là Hoàng viên ngoại tiết lộ, con gái ông có dung mạo vô cùng xấu xí, rất khó coi, rồi khuyên Gia Cát Lượng nên tìm ý trung nhân tài sắc vẹn toàn. Kể từ đó, thiên hạ rộ lời đồn thổi về nhan sắc ma chê quỷ hờn của tài nữ Nguyệt Anh. Lại có sách kể rằng, tiểu thư họ Hoàng tuy hiền dịu, nết na, trí tuệ vẹn toàn, nhưng dáng vẻ thô kệch, xấu đến độ "ma chê, quỳ hờn"...
Gạt bỏ những đồn đó, Gia Cát Lượng vẫn hạ quyết tâm tới nhà họ Hoàng cầu hôn người con gái kỳ tài. Trước sự nhiệt tình của Gia Cát Lượng, để thử thách ông, Hoàng Nguyệt Anh đưa ra hàng loạt câu hỏi để chứng thực tài năng đức độ lẫn trí tuệ uyên thâm của người đến hỏi cưới mình.

Với sự thông minh và học thức yên thâm, để chiếm được trái tim người phụ nữ tài giỏi này, Gia Cát Lượng dốc hết tâm lực, tài trí, cuối cùng cũng thuyết phục được thiên kim tiểu thư họ Hoàng.

Tuy nhiên cũng theo một ghi chép khác thì câu chuyện Hoàng viên ngoại loan tin con gái mình xấu xí, thô kệch chỉ cốt để thử thách lòng kiên trì và bản lĩnh cương nghị của Gia Cát Lượng. Thực tế, Hoàng Nguyệt Anh là một cô gái tài sắc vẹn toàn.

Chuyện tình sâu nặng

Cho tới ngày nay, giai thoại thú vị về chuyện tình của Gia Cát Lượng và Hoàng Nguyệt Anh được ghi chép và kể lại khá nhiều. Kể cả sự thực về nhan sắc của Nguyệt Anh vẫn còn khiến hậu thế phải tranh cãi.

Thế nhưng, có một điều bất biến và lưu truyền cho hậu thế noi gương đó chính là tình nghĩa vợ chồng chung thủy từ thuở hàn vi tới ngày nhung gấm của Gia Cát Lượng và Hoàng Nguyệt Anh. Trong đó, câu chuyện chiếc quạt lông vũ mà Khổng Minh sau này vẫn mang bên người là minh chứng điển hình cho mối tình sâu nặng của họ.

Tương truyền, vì ham mê võ nghệ, Hoàng Nguyệt Anh theo học danh sư trên núi. Sau khi hoàn thành việc học võ, bà được vị sư phụ tặng cho chiếc quạt lông vũ, cùng với hai chữ “minh”, “lượng” và dặn dò: “Tên hai chữ này chính là đức lang quân như ý của con”.

Khi Gia Cát Lượng tới cầu hôn và đã vượt qua thử thách, Nguyệt Anh liền mang tặng ông chiếc quạt này rồi hỏi có biết lý do tại sao nàng lại tặng cho ông một chiếc quạt lông vũ. Gia Cát Lượng điềm tĩnh trả lời: “Phải chăng là lễ khinh tình nghĩa trọng (ý chỉ của ít lòng nhiều)?”, nhưng ngay sau câu trả lời của ông thì Hoàng Nguyệt Anh lại hỏi: “Liệu còn nghĩa thứ hai?”.

Nhưng Gia Cát Lượng suy nghĩ mãi vẫn không tìm ra lời đáp, Nguyệt Anh bèn giảng giải: “Khi nãy trong lúc chàng đàm đạo thiên hạ đại sự cùng cha thiếp, thần thái người rạng rỡ, khí vũ hiên ngang, nhưng nói tới Tào Tháo, Tôn Quyền thì ưu tư lồ lộ ra ngoài. Thiếp tặng tiên sinh chiếc quạt này là để ngài che đi gương mặt lúc ấy”.

Qua câu nói đầy ngụ ý của Hoàng Nguyệt Anh, Gia Cát Lượng có thể thấy được sự thấu hiểu và tâm ý của bà dành cho chồng. Hoàng Nguyệt Anh không muốn chồng mưu sự bất thành vì dao động tình cảm, và món quà bà tặng sẽ như thứ bảo bối giúp ông che giấu cảm xúc, suy nghĩ thực sự trước đối phương.

Sau khi kết duyên cùng tài nữ Nguyệt Anh, quạt lông vũ trở thành vật bất ly thân với Khổng Minh - Gia Cát Lượng. Ông luôn coi nó như thứ báu vật luôn phải nâng niu trân trọng. Chiếc quạt cùng áo bát quái và người vợ gắn bó từ thuở hàn vi vẫn là những bảo vật đáng giá nhất mà Gia Cát Lượng luôn gìn giữ bên mình.



Gia Cát Lượng là một trong 10 Đại thừa tướng của Trung Quốc, tài năng của ông được người đời sau yêu mến, kính trọng.

Khi nói đến tài năng và lòng trung thành, người ta thường nói đến chuyện Vũ Hầu. Tư Mã Đức Tháo trong Tam Quốc đã nhận xét về Gia Cát Lượng như sau: "Nếu được một trong hai người Ngọa Long (tức Khổng Minh) hoặc Phụng Sồ (tức Bàng Thống) thì có thể định hưng được thiên hạ. Ngay cả các tướng nhà Ngụy như Tư Mã Ý cũng rất phục tài của Gia Cát Lượng. Tướng Ngụy là Chung Hội lúc đem quân đi đánh nước Thục, khi qua núi Định Quân có đến mộ bái kiến Gia Cát Lượng. Người đời sau có câu: "Vạn đại quân sư Gia Cát Lượng", để nói đến tài năng của Gia Cát Lượng.

Chưa tham gia"chính trường" đã biết đất nước chia ba

Gia Cát Lượng được sinh ra trong một gia đình gia giáo, cả ba anh em trai đều được học hành đến nơi đến chốn, vì vậy mà Gia Cát Lượng có điều kiện học hành và học rất giỏi. Cuối đời Đông Hán, mâu thuẫn xã hội ngày càng quyết liệt hơn. Lúc bấy giờ, Lưu Bị, tự là Huyền Đức, xuất thân từ tông thất của nhà Tây Hán, đứng trước tình hình xã tắc lúc đó, đã có ý chí phục hưng nhà Hán, nhưng việc này cần có người tài giỏi giúp.

Lưu Bị được Tư Mã Huy và Từ Thứ giới thiệu Gia Cát Lượng. Ông đã cùng với hai người em kết nghĩa là Quan Vân Trường và Trương Phi, ba lần đến lều tranh tìm Gia Cát Lượng. Điều này vẫn được nhắc đến như sự trân trọng dành cho quân sư Khổng Minh Tuy chưa hoạt động chính trị nhưng trong nhà của Gia Cát Lượng đã có một tấm bản đồ, khi gặp Lưu Bị, Gia Cát Lượng đã nói với Lưu Bị rằng, về sau này thiên hạ sẽ chia ba và cũng từ đó, Gia Cát Lượng đi theo làm quân sư cho Lưu Bị.

Lần đầu tiên Gia Cát Lượng cầm quân đã thắng lớn ở Gò bác vọng, trận này ông đã dùng hỏa công, tiêu diệt được nhiều quân cuả Tào Tháo. Sau đó Gia Cát Lượng còn giúp Lưu Bị cùng với Tôn Quyền đánh bại Tào Tháo ở trận Xích Bích năm 208, giúp Lưu Bị lấy Kinh Châu, định Tây Xuyên, dựng nước ở đất Thục, cùng với Ngụy ở phía bắc, Ngô ở phía Đông hình thành thế chân vạc. Đến năm 221, Lưu Bị lên ngôi hoàng đế, Gia Cát Lượng giữ chức Thừa tướng, hết lòng khôi phục lại cơ nghiệp nhà Hán.

Với vai trò quân sư và điều binh, khiển tướng của Gia Cát Lượng, nước Thục dần dần mạnh lên. Sau khi trừ bỏ được những lo lắng trong nước, Gia Cát Lượng đã đem quân xuống phía Nam để thu phục dân bản địa. Gia Cát Lượng ra quân không lâu đã bắt sống được Mạnh Hoạch, một thủ lĩnh có tiếng. Ví dụ nổi tiếng về việc Gia Cát Lượng "chiếm lòng người" chính là việc 7 lần bắt, 7 lần tha Mạnh Hoạch, cho đến khi Mạnh Hoạch thực sự tâm phục, khẩu phục mới thôi.

Gia Cát Lượng 6 lần ra Kỳ Sơn Bắc phạt cả thảy là 7 năm. Mấy lần xuất quân đều chưa giành được thắng lợi hoàn toàn do Lý Nghiêm trễ nải cấp lương nên giả truyền thánh chỉ, hai lần khác do Lưu Thiện nghe lời gièm pha mà nửa chừng hạ chiếu lui quân. Tháng 8 năm 234, trước khi mất, Gia Cát Lượng đã lập đàn để cầu thọ, nhưng số mệnh ông đã hết. Đêm hôm đó, Gia Cát Lượng ngồi trên xe, sai người đẩy ra ngoài nhìn trời đất, đau buồn thốt lên: "Từ nay ta không còn được ra trận đánh giặc nữa, trời xanh thăm thẳm giận này biết bao giờ mới nguôi". Gia Cát Lượng mất năm 234, hưởng thọ 54 tuổi. Ước nguyện của ông trước khi ra khỏi lều tranh là thành công sẽ từ quan trở về quê cũ hàng ngày ngoài việc lo canh tác, an hưởng tuổi già, thỉnh thoảng cũng đi du ngoạn với bạn bè, hàng ngày đọc sách, xong rồi ngắm cảnh và thư giãn tinh thần. Chính vì vậy mà ông đã dặn em trai của mình là Gia Cát Quan, hãy chăm lo việc cấy cày, để sau này ông sẽ trở về. Nhưng cuối cùng ước nguyện đó của hai ông đã không thực hiện được.

Sau khi chết, Gia Cát Lượng được phong tặng là Trung Vũ Hầu người đời thường gọi là Gia Cát Vũ Hầu. Ông được chôn tại ngọn núi Định Quân ở vùng Hán Trung. Ông mất mà vẫn không trung hưng được nhà Hán, nước vẫn ở thế chân vạc chia ba. Ba mươi năm sau khi ông mất (năm 263), Lưu Thiện đầu hàng nước Ngụy, nước Thục bị diệt vong.

Gia Cát Vũ Hầu trong quan niệm Đông Phương về sao tốt, sao xấu

Theo lá số tử vi của người phương Đông, thì Gia Cát Lượng là người mệnh vô chính diệu (cung mệnh không có sao chính tinh thủ chiếu). Những người mệnh vô chính diệu thì phải xét đến sự góp mặt của những sao không vong (Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không) thì mới làm rõ được tính cách của bản mệnh. Gia Cát Lượng có sao Thái Âm, miếu địa tại cung quan và sao Thái Dương vương địa ở cung tài tam chiếu, đây được gọi là cách nhật nguyệt định minh (hoặc nhật nguyệt chiếu vào hư vô cách). Điều này chứng tỏ rằng, Gia Cát Lượng có chân mệnh là người thông minh, cơ trí.

Nếu xét về các sao không vong, thì Gia Cát Lượng là người vô chính diệu đắc nhị không (Tuần và Địa Không). Mặt khác, cung phúc đức của Gia Cát Lượng vô chính diệu lại có sát tinh là Địa Kiếp, chính vì vậy mà tuổi thọ của ông không được cao (ông chỉ thọ 54 tuổi). Cung mệnh của Gia Cát Lượng có sao Hữu Bật Tả Phù, cộng với Long Trì Phượng Các ở cung Thiên Di và hóa quyền tại cung tài, nên Gia Cát Lượng là người tinh thông nhiều vấn đề và có uy quyền thực sự, có tài thuyết phục người khác. Cung Di của Gia Cát Lượng có sao Thiên Đồng (đây là sao nói về di chuyển và dời đổi), nên có thể khẳng định ông là người rời quê hương lập nghiệp xa xứ.

Gia Cát Lượng là người mệnh Mộc. Có sao mệnh chủ là Văn Các, đây là sao nói về khả năng sư phạm tài ba, cộng với sao điếu khách ở cung mệnh, có thể khẳng định ông là người có tài ăn nói, tài về diễn thuyết, tuy nhiên cung của ông là Kim, khắc với mệnh là Mộc nên không thể thọ lâu được. Chính vì Mộc với Hỏa và Thủy nên Gia Cát Lượng là người sử dụng hóa công rất giỏi.

Tại cung quan của Gia Cát Lượng có sao Thái Âm miếu địa, lại có Thiên Cơ vượng địa xung chiếu cộng với các sao Quốc ấn thiên mã, điều này khẳng định Gia Cát Lượng là người có công danh cao và sớm thành danh. Dưới thời nhà Thục (221- 263), Gia Cát Lượng giữ chức quân sư, nhưng thực chất là thừa tướng, chỉ sau vua, nắm mọi quyền hành của nhà Thục Hán. Gia Cát Lượng còn là người có tài dùng binh, vì xung chiếu với cung quan lộc, ông có sao Quốc ấn, Tướng Quân, đấy là những sao thể hiện quyết đoán của những vị tướng.

Ở cung Nô Bộc của ông có sao Văn Xương, Thiên Hỷ, điều này cho thấy dưới quyền của Gia Cát Lượng có nhiều tướng lĩnh tài ba phò trợ cho ông gây dựng nghiệp lớn. Tuy nhiên, cung ở cung Nô Bộc lại có những sao xấu như Thiên Hình, Hóa Kỵ và Tuần nên ông cũng bị kẻ dưới trở cờ làm phản không tuân lệnh (với như Mã Tốc, Ngụy Diên).

Không Minh cực kỳ giỏi về thiên văn và các tướng số cũng như phong thủy, nên trong những trận đánh cụ thể, ông đã bài binh bố trận chặt chẽ để giành những thắng lợi huy hoàng (ví dụ trận Xích Bích, Tân Dã, Bái Vọng...). Khi đó, theo Lưu Bị buổi ban đầu, đất và quân không có nhiều, Gia Cát Lượng đã biết xoay chuyển tình thế, vào đất Tây Thục. Dựa vào vùng hiểm trở của đất ấy tạo ra thế chân vạc của thời Tam Quốc. Tuy nhiên, trong thuật dùng binh có những trận đánh vì đại cuộc, Gia Cát Lượng đã tiêu diệt rất nhiều sinh linh. Chính vì vậy mà tuổi thọ của Gia Cát Lượng không cao được. Là người hiểu thời thế, ông biết là vận mệnh của nhà Hán đã suy nhưng vẫn một lòng phò tá Lưu Bị dựng đại nghiệp, mặc dù biết thiên thời không đứng về phía mình.

Trong cuộc đời chinh chiến 27 năm, Gia Cát Lượng đã dùng tài trí của mình xoay đổi càn khôn, chuyển bại thành thắng, nhưng đối với vận mệnh của bản thân thì thường không xoay đổi được.

Trước khi mất, khi xem Thiên tướng, ông cũng biết được, vận mình đã hết nhưng vì muốn sống thêm 12 năm (1 giáp) nữa để phò tự nhà Hán thống nhất thiên hạ, nên Gia Cát Lượng đã đăng đàn, xin tuổi thọ, nhưng đúng vào thời khắc cuối cùng thì ngọn nến bản mệnh bị tắt do Ngụy Diên chạy vào trướng bị gió thổi vào, vì vậy mà ông không thể sống được nữa.

Không tránh được mệnh

Trong năm Giáp Dần 234, sao Lưu Thiên hư chiếu ở cung bản mệnh, Lưu Kinh dương chiếu ở cung di, đây đều là những sao xấu ảnh hưởng trực tiếp đến bản mệnh. Cung Di của Gia Cát Lượng còn có sao Tuần và Bệnh Phù, điều này nói lên ông đã bị mắc bệnh một thời gian dài trước khi mất. Ở cung Thân (bản thân) có Lưu Thiên Khốc và Lưu Đà là những sao hàng lục sát rất xấu trong hàng bản mệnh. Cộng với cung phúc đức của ông đã xấu, nên dù tài giỏi ông cũng không tránh được mệnh của sao mình.

Bát tự luận mệnh: Đinh hỏa sáng suốt, hợp nhâm và trung

[Phong thuỷ khai vận] Thiên can “ĐINH” đại diện cho “Hỏa” và “Đoài”. Vì là hỏa trong nhà, cháy âm ỉ nên đối nội rất tốt. Vì là “Đoài” là sao Thái âm, nếu hiểu biết sâu về “Tâm linh” sẽ được làm thầy “Tâm linh”, thầy thuốc, bác sĩ.

Tính chất của người Thiên Can "Đinh"
Người có thiên can “ĐINH” nếu là nam giới sẽ lo lắng việc thờ cúng tổ tiên chu đáo, giỗ tết rất cẩn thận, nhà cửa lúc nào cũng sạch sẽ. Biết lo lắng, giải quyết, tổ chức những sự việc lớn trong dòng tộc. Người có thiên can “ĐINH” nếu hiểu biết sâu sắc về “Tâm linh” sẽ còn gánh vác được nhiều việc lớn hơn nữa cho dòng họ và gia đình, sẽ là trung tâm của sự lắng nghe của cả dòng họ và là trái tim yêu thương. Người thiên can “ĐINH” có trán cao, đôi mắt đen có thần, sống tình cảm, sống biết trước sau, biết nhẫn nhục, giọng nói trầm lớn. Người thiên can “ĐINH” là sao Thái âm quản các vì sao, là mặt trăng; nếu gặp được Thầy hướng đạo “Tâm linh” giỏi sẽ được trở thành Thầy “Tâm linh” sau này. Đinh là “Đoài” nên nét đẹp không được phô ra ngoài. Nữ giới thiên can “ĐINH” nên sống đằm thắm, nhẹ nhành thì mới hợp cách, nếu lộ ra nét đẹp hay cá tính đều sẽ không được bình yên trong cuộc sống. “Đinh” và “Đoài” luôn có sao “Thiên y” chiếu mệnh nên người có thiên can “ĐINH” nên làm nghề Y, thầy thuốc thì rất hợp mệnh trời. Vì là người có trách nhiệm, tình cảm và linh cảm nên khám bệnh, chữa bệnh thường chuẩn xác nên được nhiều người tin tưởng, không bao giờ lo sợ bị đói nghèo.

Người có thiên can “ĐINH” nếu có vấn đề về mắt mà phải đeo kính thường số phận lại không tốt, trí tuệ kém và có cuộc sống nghèo. 

Người thiên can “ĐINH” thường mắc bệnh về tim, phổi, thận, dạ dầy và nặng nhất các bệnh về răng. 

Nữ giới nếu thành lập gia đình sớm sẽ có hai lần đò. Nếu hai gò má cao sẽ “sát” chồng; chua ngoa và đanh đá. Nếu mặt méo, cằm nhọn sẽ không hợp cách, cuộc sống khổ hạnh, không hạnh phúc. 

Đinh hỏa sáng suốt, hợp nhâm và trung

Đặc trưng của Đinh Hỏa và Bính Hỏa hoàn toàn trái ngược nhau. Người sinh ra vào ngày Đinh, đặc biệt nhạy bén với tiền tài, rất giỏi tính toán, thích hợp nhất làm quản lý bộ phận kế toán. Người Đinh Hỏa thích làm ăn buôn bán, và còn là kẻ "bủn xỉn", nếu bạn vay tiền người Đinh Hỏa, khả năng thất bại là rất lớn. 

Bính Hỏa là Hỏa của mặt trời, Đinh Hỏa là Hỏa của ánh đèn, ánh nến. Rất nhiều tòa nhà được thiết kế để thu ánh sáng tự nhiên, bàn làm việc để ở bên cạnh cửa sổ, bề ngoài có thể tận dụng ánh sáng tự nhiên để tiết kiệm điện, nhưng lại gây ra một hậu quả: khi thời tiết xấu, người ta sẽ cảm thấy uể oải mất tinh thần. Nói cách khác, hiệu quả làm việc của những nhân viên trong tòa nhà đó sẽ chịu ảnh hưởng của mặt trời. Trước đây các văn phòng làm việc ở Hồng Kông đều được thiết kế theo hình thức khép kín, sử dụng đèn điện để chiếu sáng, cho dù thời tiết bên ngoài có thay đổi thế nào cũng không ảnh hưởng tới tâm trạng làm việc. Người Nhật Bản rất chú trọng tới ánh sáng đèn, tất cả mọi công ty cửa hàng đều sử dụng hệ thống đèn rất sáng sủa để trang trí. 

Ánh đèn chính là Đinh Hỏa, nơi có Đinh Hỏa sẽ có khả năng phát triển kinh tế rất lớn. Khi đại vận hành tới Đinh, có thể kiếm tiền được nhiều tiền. Nhìn chung, mật mã Đinh Hỏa trong Bát tự tượng trưng cho tiền của.

Cổ nhân nói: "Đinh Hỏa nhu trung, phẩm tính chiêu dung, bão Ất nhi hiếu, hợp Nhâm nhi trung" (Đinh Hỏa trong nhu, phẩm tính sáng suốt, ôm Ất mà có hiếu, hợp Nhâm mà có trung). Phụ nữ Đinh Hỏa thường ôn nhu, có khả năng điều tiết, hòa hợp. Đinh Hỏa gặp Nhâm Thủy, nếu bên cạnh xuất hiện Ất Mộc thì có thể cùng Nhâm Thủy hợp hóa thành Mộc. Thủy khắc Hỏa, Đinh Hỏa vốn bị khắc bởi Nhâm Thủy, nhưng Đinh Hỏa lại có bản năng đặc biệt, có thể hóa sát thành Ấn, biến Nhâm Thủy thành Ấn sinh vượng cho mình. Đây cũng là điểm thành công của người Đinh Hỏa. 

Điều kỳ diệu của Bát tự chính là ở chỗ khó của nó, Bát tự chứa đựng những nhân tố có tính chất biến đổi. Như chữ Đinh gặp Nhâm, sẽ biến thành Mộc. Nếu không hiểu về hợp cục, sẽ rất dễ bị Bát tự "đánh lừa”. Hợp cục chính là điểm khó nhất khi các bạn tìm dụng thần.

Tư vấn phong thủy

Xem thêm »

Xem phong thủy

Xem thêm »

Chúng tôi có thể giúp gì cho bạn?

Nhà tài trợ

 
TOP